|
Học lại một Lối Nhìn,
Nghe lại với vành tai xôn xao…
Bài chia sẻ nầy sẽ lần lượt khảo sát những sinh hoạt
«làm người» của chúng ta, trong năm lãnh vực chính yếu sau đây:
- Thực tế,
- Lối nhìn hay là quan điểm « làm người và thành
người »,
- Đời sống xúc động.
- Ngôn ngữ,
- Những quan hệ trao đổi xã hội qua lại hai chiều
giữa người nầy với người khác, bằng phương tiện ngôn ngữ có lời và
ngôn ngữ không lời.
***
1.-Thực tế của tôi : Tôi thấy, tôi nghe, tôi quan
sát
-
Quan sát, ghi nhận những sự kiện
khách quan : Tôi thấy, tôi nghe, tôi tiếp cận,
-
Ý nghĩa đối với tôi : Quyết định và
chọn lựa, thay vì phản ứng một cách máy móc, tự động,
-
Thực tế của tôi khác với thực tế
của người khác,
-
Hai thực tế của hai người có thể
đồng qui, khác biệt hay là bổ túc nhau.
Thực tế là tất cả những gì tôi thấy, tôi nghe và
tiếp cận với tay chân hay là làn da và thớ thịt của tôi.
Một người khác cùng chung sống và đang có mặt với
tôi, từ một vị trí hay là ở một gốc độ khác, có thể ghi nhận một
thực tế khác, hoàn toàn khác biệt, thậm chí mâu thuẫn với thực tế
của tôi.
Chính vì lý do ấy, bao lâu hai người chưa trao đổi
qua lại, chia sẽ, góp chung lại với nhau, với một thái độ lắng nghe
và tôn trọng lẫn nhau, thực tế của tôi chưa thể nào xích lại gần với
thực tế của người kia.
Vấn đề trở nên phức tạp và phiền toái hơn nữa, khi
mỗi người dựa vào những kinh nghiệm quá khứ hay là những dự phóng
tương lai, để trình bày về những thực tế có liên hệ gần hoặc xa với
mình.
Ví dụ: Thực tế của Đất Nước Việt Nam, là gì một cách
thực sự và khách quan, một đàng đối với một người ở lại trong Nước.
Đàng khác, cũng một thực tế ấy là gì, đối với một người đã ra đi và
đang sống ở Nước Ngoài? Nếu hai người có hai chính kiến hay là ở vào
hai thế hệ, hoặc lớp tuổi khác nhau, sự cách biệt giữa hai loại thực
tế của hai người ấy càng trở nên lớn lao hơn, có khi còn khai trừ và
loại thải lẫn nhau.
Ba cơ chế sàng lọc (đến độ bóp méo, xuyên tạc)
Sau cùng, chúng ta dùng ngôn ngữ, để diễn tả thực tế
được cưu mang trong nội tâm của mình. Khi bộc lộ nội tâm như vậy,
chúng ta không thể không sử dụng ba cơ chế hay là xu thế cần thiết
và tất yếu, có mặt trong mọi ngôn ngữ, như: tổng quát hóa, gạn lọc
và chủ quan hóa:
Tổng quát hóa có nghĩa là khởi phát từ hai hoặc ba
nhận xét cụ thể, chúng ta nhảy vọt lên và đề xuất một kết luận có
tính qui luật và thường hằng: Thực tế luôn luôn là như vậy, và phải
tiếp tục như vậy, trong mọi trường hợp, đối với mọi người.
Gạn lọc là xu thế chỉ chọn lựa những sự kiện cụ thể,
thích hợp với hoàn cảnh và kinh nghiệm của bản thân tôi, và từ đó
tôi cố tình loại trừ và kết án những gì đi ngược lại với những tin
tưởng hoặc định kiến đã có mặt trong nội tâm của tôi.
Chủ quan hóa là xu thế gán ghép hoặc áp đặt cho kẻ
khác một ý nghĩa do tôi khám phá và đề xuất. Thực tế đối với tôi là
như vậy, cho nên mọi người phải chấp nhận thực tế ấy, như là một
hiển nhiên, không cần khảo sát thêm và kiểm chứng một cách dài dòng,
phức tạp.
Hai Thái độ cần thiết : lắng nghe và tôn trọng
Khi ý thức một cách sáng suốt, đến ba cơ chế tâm lý
nầy, luôn luôn có mặt trong ngôn ngữ và tác phong trao đổi hằng
ngày, chúng ta sẽ cố quyết học tập hai thái độ, nhằm thăng tiến bản
thân và tôn trọng tính người của mọi anh chị em đang có quan hệ với
chúng ta.
-
Thái độ thứ nhất là LẮNG NGHE chính mình, để đề phòng bao
nhiêu cạm bẫy, do chúng ta tạo nên, khi phê phán, đánh giá, tố cáo
và kết án kẻ khác. Tổ tiên và cha ông chúng ta đã đề nghị «hãy đánh
lưỡi bảy lần trước khi nói», có nghĩa là «hãy thức tỉnh», không mê
muội, trầm mình trong những định kiến hoàn toàn vô thức. Nói cách
khác, khi đi, tôi biết tôi đang đi. Khi nói, tôi biết tôi đang nói…
-
Thái độ thứ hai là Lắng Nghe và Tôn Trọng kẻ khác, tạo mọi
điều kiện thuận lợi và tốt hảo, nhằm giúp họ diễn tả và trình bày
thực tế, do chính họ ghi nhận. Khi chúng ta lắng nghe như vậy,
chúng ta đã cho phép người ấy «trở thành người».
2.- Tư Duy
-
Môi trường hóa : Ai, khi nào, ở
đâu, làm gì, bao lâu, với ai, thế nao…Mô tả với sự kiện khách quan,
-
Thuyên giải bằng cách đưa ra giả
thuyết,
-
Rút tỉa Kết luận,
-
Những bước thực hiện,
-
Đánh giá kết quả : thành tựu hay
thất bại.
Sau khi ghi nhận thực tế với năm giác quan, chúng
ta sử dụng TƯ DUY, để tổ chức, khẳng định và trình bày LỐI NHÌN của
mình. Lối nhìn, tùy theo cách dùng ngôn ngữ của mỗi tác giả, còn
mang những tên gọi khác nhau như: ý kiến, quan điểm, lập trường hay
là vũ trụ quan, thể thức nhìn đời.
Năm cấp thang suy luận
Nhằm phát huy và thao tác con đường tư duy một cách
sáng suốt, có hệ thống và khoa học, chúng ta cần từ từ đi lên từng
bước, theo năm cấp thang suy luận sau đây:
- Cấp thứ nhất là thâu lượm, khảo sát và kiểm chứng
các dữ kiện cụ thể và khách quan có liên hệ đến một vấn đề mà chúng
ta muốn giải quyết.
- Cấp thứ hai là đề xuất một hay nhiều giả thuyết,
nhằm khám phá ý nghĩa của thực tế hay là vấn đề mà chúng ta đang
nhận diện và đối diện.
- Cấp thứ ba là chọn lựa một hướng đi, hay là mục
đích tối hậu. Từ đó, chúng ta xác định đâu là ưu tiên số một - hay
là mục tiêu quan trọng nhất - trong bao nhiêu dự phóng của chúng ta.
- Cấp thứ tư là chuyển biến mục đích tối hậu thành
những hiện thực hay là những tác động cụ thể hằng ngày.
- Cấp
thứ năm là đánh giá kết quả cuối cùng, sau một thời gian thực hiện,
bằng cách trở về đối chiếu với thực tế lúc ban đầu, để xác định đâu
là thành quả khả quan và đâu là những tồn tại chưa được khắc phục.
Nói cách khác, chúng ta thất bại, vì những cản trở nào? Hay là
chúng ta đã thành tựu, nhờ vào những năng động nào? Dựa vào cách
đánh giá ấy, chúng ta sẽ thêm, bớt hay là chuyển hướng thế nào,
trong bao nhiêu dự án sắp tới?
Hai động tác khác nhau
Trong cách dùng từ, để tránh những ngộ nhận đáng
tiếc có thể xảy ra, chúng ta cần phân biệt hai động tác có ý nghĩa
và phần vụ hoàn toàn khác nhau:
Một bên là nhận định, đánh giá tác phong hay là hành
vi của chúng ta và của người khác.
Bên kia là phê phán, xét đoán giá trị của con người,
với một đoàn tùy tùng dài thòng lòng như tố cáo, loại trừ, chửi bới
và tấn công...
Trong cuộc sống làm người, chúng ta không thể không
nhận định và đánh giá công việc cũng như hành vi của mình và của
người khác.
Một cách đặc biệt, khi có nhiệm vụ giáo dục và hướng
dẫn ai, phải chăng công việc quan trọng bậc nhất của chúng ta là
giúp cho người ấy càng ngày càng phát huy khả năng đánh giá tất cả
những gì xảy ra trong cuộc đời, bắt đầu từ những gì họ nói và làm?
Đánh giá như vậy có nghĩa là xác định và phân biệt,
theo những tiêu chuẩn đang được thịnh hành trong môi trường xã hội,
văn hóa và giáo dục: cái gì đúng và cái gì sai, cái gì thích hợp và
cái gì không thích hợp với đời sống và quan hệ xã hội…
Tuy nhiên, khi làm công việc ấy, chúng ta cần ý thức
một cách rõ ràng và sáng suốt: trong mọi hoàn cảnh, đánh giá công
việc hay là tác phong của một người không phải là phê phán giá trị
và bản sắc làm người của người ấy.
Sứ điệp TÔI để nói về mình,
Không nói thay nói thế,
Không áp đặt với những động từ ra lệnh
Cho nên, trên con đường đi tới của tư duy, một
đàng với sứ điệp «TÔI», chúng ta khẳng định quan điểm và xác tín của
mình. Đàng khác, chúng ta lắng nghe và tôn trọng người khác, cho
phép họ diễn tả và trình bày ý kiến của mình, mặc dù đó là một trẻ
em, đang ở vào lứa tuổi «học làm người». Trái lại, khi «nói THAY nói
THẾ», hay là «cố tình áp đặt từ trên và từ ngoài» cho kẻ khác, một
lối nhìn, một cách đơn phương và độc tài, với những động từ CẦN,
PHẢI, NÊN… chúng ta chưa thực sự làm người. Đồng thời, chúng ta đang
làm tổn thương giá trị làm người, hay là xói mòn lòng tự tin và khả
năng học tập của người ấy.
3.- Xúc Động
-
Mô tả một cách cụ thể và khách quan
những điều được quan sát và ghi nhận,
-
Gọi tên xúc động : giận, sợ, buồn,
-
Khám phá nhu cầu cơ bản ở bên dưới
xúc động,
-
Yêu cầu kẻ khác thỏa mãn, thay vì
đòi hỏi, ép buộc.
Tư duy, như vừa được nói tới trên đây, có phần vụ
sáng soi và điều hướng chúng ta, trong mọi chương trình và kế hoạch
hành động.
XÚC ĐỘNG, trái lại, là động cơ thúc đẩy chúng ta
thực hiện và hoàn thành công việc, nhằm thỏa mãn mọi nhu cầu chính
đáng và cơ bản trong cuộc sống làm người. Chính vì lý do đó, khi các
nhu cầu làm người được đáp ứng và toại nguyện, chúng ta vui sướng,
hạnh phúc và an bình.
Trong trường hợp ngược lại, những xúc động như sợ
hãi, lo buồn và tức giận sẽ xuất hiện trong nội tâm, như một tiếng
còi báo động nhằm đánh thức và thúc giục chúng ta «hãy diễn tả, chia
sẻ và chuyển hóa tình huống hiện tại». Không được hóa giải như vậy,
xúc động sẽ tràn ngập và khống chế tư duy, như một dòng thác lũ phá
vỡ bờ đê và làm băng hoại mọi mùa màng trong những cánh đồng hai
bên.
Thêm vào đó, ở bên dưới mỗi xúc động đang làm cho
nội tâm và nhất là các sinh hoạt bình thường của tư duy bị tê liệt,
chúng ta hãy lắng nghe và khám phá một hay nhiều NHU CẦU của cuộc
sống làm người. Hãy lắng nghe và nhìn nhận, một cách chân thành và
cẩn trọng, những nhu cầu cơ bản ấy. Phải chăng đó là cách hóa giải
hữu hiệu và cũng là con đường làm người cần được mỗi người học tập,
tôi luyện trong suốt cuộc đời.
Nếu chúng ta không đáp ứng, với những phương thức
vừa được trình bày, xúc động sẽ trở thành BẠO ĐỘNG trong ngôn ngữ và
hành vi. Ở cuối chặng đường thoái hóa, xúc động sẽ trở thành hận thù
và chiến tranh.
Con người lúc bấy giờ, sẽ biến thân thành muông thú
đối với nhau, trong mọi quan hệ qua lại hai chiều, như “Tao hơn –
mày thua, Tao tốt – mày xấu, Tao có lý – mày phi lý…”. Tắt một lời,
“Mors tua, vita mea”, có nghĩa là “Mày phải chết, để cho tao sống,
chúng ta không thể đội trời chung”.
Trong khuôn khổ của bài chia sẻ nầy, tôi chỉ đề cập
đến ba xúc động chính yếu sau đây mà thôi:
-
Thứ nhất là TỨC GIẬN. Xúc động nầy
có phần vụ nhấn mạnh rằng: «Tôi đang cần TỰ DO và tôi cần khẳng
quyết quyền KHÁC BIỆT, đối với những người đang chung sống hai bên
cạnh.
-
Thứ hai là BUỒN PHIỀN. Sứ điệp của
xúc động nầy là: «Tôi đang cần tạo lập những QUAN HỆ hài hòa và mới
mẻ, với con người và sự vật đang bao quanh tôi».
-
Thứ ba là LO SỢ. Xúc động nầy đang
dùng ngôn ngữ không lời, để nhắn nhủ cho chính chúng ta rằng: «Tôi
đang cần được sống trong bầu khí AN TOÀN. Xin đừng có ai đe dọa, tố
cáo và kết án tôi».
Khi cả ba nhu cầu cơ bản ấy được lắng nghe, trân
trọng, đáp ứng và toại nguyện, ai ai trong chúng ta cũng sẽ tự
nguyện thi thố tài năng của mình một cách tối đa và tốt hảo, trên
con đường làm người. Đồng thời, một cách hăng say và nhiệt tình,
chúng ta sẽ vận dụng mọi cơ may, để đóng góp và xây dựng cho kẻ
khác, để họ cũng có những điều kiện làm người như chúng ta, với
chúng ta và nhờ chúng ta.
***
4.- Quan Hệ Xã Hội
-
Xin,
-
Cho,
-
Nhận,
-
Từ chối (nói Không)
Sinh hoạt thứ bốn, trên tiến trình làm người của
chúng ta, là kết dệt những quan hệ ĐỒNG CẢM và ĐỒNG HÀNH, với anh
chị em đồng bào và đồng loại. Theo lối nhìn của tác giả Stephen R.
COVEY, đây là loại quan hệ «Người Thắng-Tôi Thắng-Chúng ta cùng
Thắng». Không có kẻ hơn, người thua. Không có người tự tấn phong là
hạng «siêu nhân», và những thành viên còn lại được cư xử và đãi ngộ
như là «công cụ», «đồ vật», «bệ gác chân», hay là «một loại người
phó sản».
Trong hiện tình thoái hóa của đời sống làm người, vì
những lý do thực tiển, quan hệ XIN CHO đã bị đầu độc và ô nhiễm trầm
trọng. Xin có nghĩa là quị lụy, sụp lạy trước một « phú ông ». Cho
có nghĩa là ban phát một cách nhỏ giọt, từ trên và từ ngoài, một
cách tùy nghi và tùy tiện.
Trong khi đó, quan hệ bình thường và lành mạnh giữa
người và người, nhất là trong địa hạt Tình Yêu dâng hiến, bao gồm
bốn động tác cơ bản: XIN và CHO, NHẬN và TỪ CHỐI.
Hẳn thực, chính lúc tôi cho, tôi đang nhận lại bao
nhiêu hồng ân, bằng cách nầy hoặc cách khác. Khi xin ai một điều gì,
tôi đang nhìn nhận tính chủ thể của người ấy. Cho nên, tôi không có
thái độ cướp giật, ép buộc, đòi hỏi, đấu tranh, giống như hùm beo
muông sói.
Cũng trong tinh thần và lăng kính ấy, khi ai xin tôi
một điều gì, tôi cần khảo sát điều kiện thực tế của mình, để có thể
chọn lựa một trong hai con đường: Một là CHO một cách bình tâm và
thanh thản. Hai là từ chối, trả lời «KHÔNG», một cách nhã nhặn và
khiêm tốn. Xin như vậy không phải là nài nỉ, ép buộc người kia phải
cho. Và khi cho trong tinh thần ấy, tôi không phải là người ở trên,
ban phát xuống một cái gì dư thừa, vô ích và vô dụng. Trong cách cho
như vậy, tôi không cưu mang một hậu ý là «thả tép câu tôm». Hẳn
thực, khi cho bất kỳ một điều gì, một cách thực sự và trọn vẹn, tôi
CHO chính CON NGƯỜI của tôi. Tôi CHO cả MỘT TẤM LÒNG làm người, khả
dĩ kêu mời người khác cũng làm người với tôi va giống như tôi.
Chính vì bao nhiêu lý do vừa được đề xuất như vậy,
trong mọi quan hệ bao gồm tình yêu, tình bạn, tình anh chị em đồng
bào, đồng loại…tôi dùng sứ điệp «NGÔI THỨ NHẤT, TÔI», để diễn tả vả
khẳng định con người của mình, thay vì lạm dụng ngôi thứ hai, để nói
thay, nói thế cho kẻ khác, theo kiểu «cả vú lấp miệng em», hay là áp
đặt từ trên và từ ngoài những « qui luật » như : Phải, Cần, Nên,
Không được...
Trong tinh thần và lăng kính ấy, khi biết lắng nghe
và tôn trong con người đang có mặt và chung sống, chúng ta sẽ có khả
năng sáng tạo và thiết lập với mọi người, những quan hệ xây dựng và
hài hòa, còn mang tên là « tương sinh, tương thành ». Hẳn thực, khi
chúng ta cố quyết « làm người », chúng ta sẽ tạo điều kiện thuận lợi
cho kẻ khác « thành người, vói chúng ta, nhờ chúng ta và như chúng
ta ».
Bốn bước đi tới trong mỗi quan hệ tiếp xúc và trao
đổi
Nhằm cụ thể hóa những ý kiến vừa được quảng khai,
sau đây là bốn bước cần thực hiện, mỗi lần chúng ta thiết lập những
quan hệ xây dựng và hài hòa với người khác, nhất là khi đối diện
những phản ứng xúc động đang leo thang, tràn ngập và sắp bùng nổ:
Bước thứ nhất:
Tôi Nghe, tôi Thấy…Tôi ghi nhận sự kiện khách quan,
cụ thể trước mắt mình.
Khi làm như vậy, tôi tìm cách phản ảnh và kiểm
chứng : có phải, có đúng như vậy không ?
Bước thứ hai :
Kêu ra ngoài, gọi tên xúc động đang ẩn núp ở dưới sự
kiện.
Ví dụ : Em nói như vậy có nghĩa là em đang BUỒN,
GIẬN, hay là SỢ phải không ? Khi tiếp xúc với một người, chúng ta
chỉ cần xoay lui xoay tới với 3 xúc động chính yếu nầy mà thôi.
Bước thứ ba :
Sau khi lắng nghe và ghi nhận xúc động , chúng ta
tìm hiểu thêm: Em đang CẦN gì? NHU CẦU quan trọng bậc nhất của em có
phải là --- ?
Bước thứ tư : Vậy theo em, trong hoàn cảnh và vị trí
của tôi, tôi có thể làm gì cụ thể, để đáp ứng nhu cầu của em ? Em
yêu cầu tôi LÀM gì?
Sau khi lắng nghe, ghi nhận, tôi xin trả lời :
- Về yêu cầu thứ nhất mà Em vừa trình bày, tôi có
thể làm được.
- Về yêu cầu thứ hai ... tôi không có khả năng và
điều kiện để làm.
Những cách làm quan trọng
Khi từng bước đi lên như vậy, tôi lưu tâm đến những
cách làm quan trọng sau đây :
-
1) Dùng sứ điệp TÔI, để nói về mình,
cũng như khẳng định mình một cách trung thực. Điều cần đề phòng là
nói thay nói thế kẻ khác, thuyên giải, bói đoán, áp đặt cho kẻ khác
những lối nhìn hoàn toàn chủ quan.
-
2) PHẢN ẢNH, nghĩa là nói lại với ngôn
ngữ của mình, những gì chúng ta đã ghi nhận và đón nhận, khi lắng
nghe và đặt trọng tâm vào con người của kẻ khác.
-
3) KIỂM CHỨNG bằng cách yêu cầu kẻ
khác nói rõ : những điều tôi hiểu về họ, có hoàn toàn ăn khớp với
quan điểm của họ hay không ?
-
4) KHÔNG KHUYÊN BẢO, nghĩa là đề nghị
cho kẻ khác những lối nhìn và cách làm của chính chúng ta.
-
5) Thay vì bói đoán hay là tưởng
tượng, tôi GHI NHẬN một cách khách quan, những gì mắt thấy, tai
nghe, phát xuất từ người đang trao đổi với tôi.
-
6) Thay vì ÁP ĐẶT một cách vu vơ,
nghĩa là đề xuất một lối nhìn hoàn toàn chủ quan, do chính tôi khám
phá. xây dựng và tưởng tượng, tôi chỉ cố gắng TRUNG THỰC NÓI VỀ MÌNH
và LẮNG NGHE cũng như TÌM HIỂU ý kiến của người khác, khi họ phát
biểu.
-
7) Khi thiết lập những quan hệ ĐỒNG
CẢM như vậy, chúng ta tạm thời đóng vào ngoặc, không đề cập vấn đề
đồng ý hay bất đồng, về mặt tư tưởng và quan điểm. Chúng ta chỉ làm
công việc nhìn nhận con người và tôn trọng giá trị làm người của họ
mà thôi.
Thể theo lối nhìn và kinh nghiệm hòa giải của tác
giả Marshal B. ROSENBERG, chúng ta chỉ cần tôn trọng một cách nghiêm
chỉnh và chính xác, bốn bước từ từ đi lên, như được đề nghị, chúng
ta sẽ có khả năng đề phòng và ngăn chận hiện tượng xúc động biến
thành bạo động, trong hành vi của chính chúng ta, cũng như trong
hành vi của kẻ khác.
Thái độ có tính « trị liệu và giáo dục » đối với
những triệu chứng « bùng nổ » của trẻ em
Chính vì lý do nầy, mỗi lần có hiện tượng xúc động
« bùng nổ » nơi trẻ em, tôi đề nghị những cách hành xử sau đây :
-
Thứ nhất, người lớn hãy có mặt với trẻ
em, đừng trốn chạy, bỏ đi nơi khác,
-
Thứ hai, thay vì ngăn chận, ức chế,
trừng phát…bằng ngôn ngữ hoặc hành vi, chúng ta chỉ bình tĩnh phản
ảnh : Mẹ thấy con bùng nổ. Con có thể nói lên cơn tức giận của con.
Mẹ cho phép con diễn tả, nói ra, bộc lộ ra ngoài. Nếu tức quá, con
hãy tức với cái gối nầy đây. Trường hợp trẻ em đánh đập kẻ khác,
chúng ta chỉ cầm tay, giữ chặt trẻ em lại và nói : Con tôi tức quá,
giận quá. Con có thể giận cái ghế, cái gối. Nhưng không bao giờ đánh
em, đánh mẹ. Điều cốt yếu trong lúc nầy là chúng ta giữ nét mặt và
thái độ bình tĩnh, không ức chế và trừng phạt.
-
Thứ ba, sau khi trẻ em đã trở về tình
trạng ổn định, chúng ta tìm hiểu nhu cầu của trẻ em : Con cần gì,
hãy nói ra cho mẹ biết. Trường hợp trẻ em không nói, chúng ta có thể
thuyên giải, đưa ra một lý do hay là đặt câu hỏi. Động cơ chính
trong cách làm và cách nói của chúng ta, vào lúc nầy là có mặt và
trao đổi, phản ảnh, hơn là khám phá sự thật hay là nguyên nhân đích
thực của hành vi bùng nổ.
-
Thứ bốn, để kết thúc, chúng ta đề nghị
một trò chơi. Hai mẹ con có thể cầm tay nhau, đi quanh một vòng…Nếu
người lớn đã có thói quen tiếp xúc, trao đổi như vậy… dần dần họ sẽ
tìm ra những cách làm và lời nói thích hợp. Tuy nhiên, tôi muốn nhấn
mạnh lại, điều quan trọng ở đây là có mặt và trao đổi. Nội dung
không thiết yếu bao nhiêu.
Và khi người mẹ biết tạo quan hệ
Đồng Cảm như vậy, bà là cái KHUNG bao bọc, che chỡ, tạo an toàn tình
cảm cho đứa con, trong mọi tình huống thuận lợi cũng như bất lợi.
Trong tinh thần và lăng kính nầy, Lắng Nghe, Có Mặt
và Đồng Cảm, là những quà tặng lớn lao, cho những người đang tiếp
xúc với chúng ta, bất kể người ấy đang còn là một trẻ em, hay đã
trưởng thành và có những trách nhiệm, trong lòng xã hội.
***
5.- Ngôn Ngữ
-
Phương tiện phục vụ Tư Duy,
-
Phản ảnh Xúc động,
-
Thiết lập quan hệ xây dựng và hài
hòa,
-
Mang ra vùng ánh sáng của Ý Thức.
Như đã được trình bày trên đây, Nội Tâm bao gồm năm
thành tố khác nhau, nhưng bổ túc và kiện toàn cho nhau :
-
Cửa Vào làm bằng năm giác quan (Input),
-
Tư Duy và Xúc Động là hai Thành Tố thuộc Tiến Trình Biến Chế
và Chuyển Hóa (Processing),
-
Hai Thành Tố thứ tư và thứ năm là Cửa Ra bao gồm Ngôn Ngữ và
những Quan Hệ xã hội giữa người với người (Output).
Vì lý do sư phạm, tôi đã chọn lựa thứ tự trước-sau,
trong-ngoài. Trong thực tế, năm thành tố ấy giao thoa chằng chịt,
tác động qua lại, kết dệt với nhau những quan hệ nhân quả hai chiều.
Hẳn thực, một trong năm thành tố có thể là nhân, có khả năng phát
sinh, điều hướng hoặc điều động bốn yếu tố còn lại. Khi khác, chính
yếu tố ấy lại là thành quả chịu ảnh hưởng lớn lao của một thành tố
khác.
Tư duy chẳng hạn, mang lại cho đời sống của con
người một hướng đi, một ý nghĩa, một mục đích. Tuy nhiên, không có
xúc động làm động cơ thúc đẩy, làm sao con người có thể có khả năng
chuyển biến một chương trình, một kế hoạch thành hoa quả cụ thể
trong lòng cuộc đời. Nhưng khi không có ánh sáng của tư duy soi sáng
và hướng dẫn, xúc động sẽ tức khắc bị tràn ngập và gây ra nhiều đổ
vỡ trong đời sống xã hội…
Nói khác đi, xúc động cần được gọi ra ngoài, đem ra
vùng ánh sáng của ý thức, bằng phương tiện ngôn ngữ. Lúc bấy giờ,
xúc động không còn là một «Xung Năng » hoàn toàn vô thức, một sức
thúc đẩy, dồn ép, tạo căng thẳng.
Trong lăng kính vừa được trình bày, ngôn ngữ là một
phương tiện được dùng, để GỌI RA NGOÀI, hay là MANG RA VÙNG ÁNH
SÁNG, những gì được cưu mang trong nội tâm. Đối với bốn thành tố
khác - là giác quan, tư duy, xúc động và quan hệ xã hội - ngôn
ngữ đóng vai trò tổ chức, xếp đặt, diễn tả, phản ảnh hay là giải
tỏa. Nhờ ngôn ngữ, chúng ta đặt tên hay là gọi tên, cho những gì
chúng ta thấy, nghe, cảm. Tuy nhiên, ngôn ngữ không phải là sở hữu
riêng tư của một cá nhân. Đó là phương tiện của cả một tập thể, một
cộng đồng, một nền văn hóa, có khả năng mở ra cho chúng ta những
cánh cửa bao la, diệu vợi, một bầu trời tự do và sáng tạo.
Đồng thời, ngôn ngữ cũng là một
cạm bẫy đầy hiểm nguy và tai họa. Chẳng hạn, chúng ta dùng ngôn ngữ,
để tìm hiểu, khám phá lối nhìn và quan điểm của kẻ khác. Nhưng chúng
ta cũng có thể dựa vào ngôn ngữ, để áp đặt cho kẻ khác những cách
làm, những lối suy tư mà chúng ta lầm tưởng đó là chân lý ngàn đời,
là qui luật bất di bất dịch, phổ cập bất kỳ ở đâu.
Bao nhiêu nhận xét ấy cho phép chúng ta ý thức đến
ít nhất ba phần vụ khác nhau của ngôn ngữ :
-
Thứ nhất, đó là một phương tiện cần được đặt dưới quyền sử
dụng của tư duy, nhằm tổ chức và định hướng cuộc đời.
-
Thứ hai, đó cũng là một dụng cụ hữu ích và hữu hiệu, để chúng
ta thiết lập quan hệ tiếp xúc và trao đổi, chia sẻ và đồng cảm với
những người cùng chung sống trong môi trường xã hội.
-
Thứ ba, xuyên qua con đường ngôn ngữ, chúng ta thực thi công
việc phản ảnh, có nghĩa là từ từ gọi ra vùng ánh sáng của ý thức,
bao nhiêu động lực đen tối, mập mờ, bao nhiêu xung năng vô tổ chức,
cũng như bao nhiêu tiếng nói còn đang bị ức chế, trấn áp, chưa được
coi trọng và lắng nghe.
***
Để có can đảm học đi học lại những bài học cơ bản
trên đây, ngày ngày tôi không ngừng nhắn nhủ mình :
Ánh mắt em là cả một bầu trời,
Bàn tay em huyền nhiệm thấu tầng mây,
Bước chân em gieo hạnh phúc cho đời,
Quả tim em là nguồn suối không bao giờ cạn vơi…
Trái lại, chỉ cần lảng quên, mê muội, thiếu tỉnh
thức… trong vòng một vài chốc lát, tôi lại phải đắm chìm, ngụp lặn
trong vòng luân hồi, làm bằng những lời tố cáo, kết án, thiên kiến
và hận thù. Ai có thể giải thoát tôi, khỏi những tư tưởng nhị nguyên
và lưỡng cực ấy ?
Nguyễn Văn Thành
Lausanne, Thụy Sĩ
|