|
Mặc cảm Sơn Tinh
và Thủy Tinh của Người Việt Nam
(thử phân tâm
một vết thương nghìn đời vẫn còn rướm máu)
Trong lịch sử của Đất Nước Việt Nam, những sự kiện
như Nam Bắc phân tranh, Con Sông Bến Hải… tuy dù đã lùi dần vào quá
khứ, vết thương vẫn còn rướm máu và nhức nhối, trong cõi lòng của
tất cả những ai :
« Nhớ Nước đau lòng con Quốc Quốc,
« Thương Nhà mỏi miệng cái Gia Gia ».
Hẳn thực, mặc cảm Sơn Tinh và Thủy Tinh, cho đến
ngày hôm nay vào thời đại Nghìn Năm Thứ Ba, vẫn còn là một ung nhọt
đang lở lói, lan tỏa, chưa được điều trị một cách dứt điểm.
Bao lâu chúng ta chưa có một tầm nhìn thẳng, cố
quyết nhận diện và đối diện vết thương lòng ấy, một cách can đảm và
trung thực, chúng ta sẽ không bao giờ tìm cách hóa giải mặc cảm ấy
tận gốc rễ và ngọn nguồn. Bóng hình nó vẫn thấp thoáng đó đây, đeo
đưổi tâm tư của nhiều người, len lỏi nằm vùng trong mọi công trình
đóng góp và xây dựng của chúng ta. Và cứ như vậy, mỗi lần hai ba
người Việt Nam có cơ hội ngồi lại với nhau, làm việc với nhau, trong
bất cứ lãnh vực nào, mặc cảm Sơn Tinh và Thủy Tinh được hà hơi tiếp
sức, sống lại và trở về. Họ chỉ gây ra bão lụt, mất mùa, đói khát,
lầm than, chia rẽ, hận thù, chiến tranh và tàn hoại, trong chính
cuộc đời và bản thân mình. Có bao giờ họ biết giật mình, thức tỉnh,
nhận thức một cách sáng suốt rằng tất cả anh chị em đồng bào, không
loại trừ một ai, đang khát khao hòa bình, hạnh phúc, no cơm ấm áo,
trên mỗi con đường của Quê Hương, từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau ?
Dưới ánh sáng của FREUD, tôi muốn phân tâm cặn kẽ và
chi li, mặc cảm Sơn Tinh và Thủy Tinh. Tôi cố gắng đào bới lên, để
khám phá cho kỳ được bao nhiêu tầng lớp đã đóng lớp rêu phong và tạo
nên một thế kẹt, từ đời nầy qua đời khác. Nói khác đi, nội kết hay
là thế kẹt nghìn đời của chúng ta nằm ở đâu, bao gồm những yếu tố
nào ? Khi nhận diện và đối diện, một cách thành tâm và can trường,
ba cấu trúc Tự Ngã, Bản Ngã và Siêu Ngã, đang có mặt trong nội tâm,
chúng ta sẽ có cơ may chuyển hóa bao nhiêu vấn đề đang bủa vây và
làm tê liệt mọi công trình xây dựng Đất Nước và phục vụ anh chị em
đồng bào.
1.- Siêu Ngã của chúng ta là gì ?
Tác giả HOÀNG Trọng Miên, trong tác phẩm « Việt Nam
Văn Học Toàn Thư », do Tiếng Đông Phương xuất bản, Saigon 1973, đã
đưa ra những dữ kiện sau đây :
« Thuở bấy giờ, Vua Hùng Vương đang trị vì ở Phong
Châu, có người con gái rất đẹp tên là Mỵ Nương…Hùng Vương, trước lời
xin cầu hôn cùng một lượt của hai thần Sơn Tinh và Thủy Tinh, mới
bảo đôi bên thi tài. Thấy cả hai thần đều tài giỏi, không ai kém sút
ai, Hùng Vương không biết nhận lời bên nào, mới hứa gả cho ai đem
nhiều vật lạ của quý làm đồ sính lễ đến trước nhất, trong ngày hôm
sau. Sơn Tinh đến trước. Hùng Vương giữ đúng lời hứa, cho Sơn Tinh
rước Mỵ Nương về Núi Tản Viên ».
Trong câu chuyện nầy, nhằm tìm hiểu Siêu Ngã là gì,
chúng ta cần ghi nhận những yếu tố cơ bản sau đây :
Thứ nhất, trong vấn đề tương lai và hạnh phúc đôi
lứa của đứa con gái của mình, Vua Hùng Vương, với tư cách là người
cha, đã đơn phương quyết định mọi chuyện, không có một lời và một
lần tham khảo ý kiến của đứa con gái, như « Con yêu người nào trong
hai thần Núi và Sông ».
Thứ hai, động cơ thúc đẩy hành động và tiêu chuẩn
quyết định, trong vấn đề chọn lựa giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh, là
« Ai tài giỏi hơn ai ». Và vì hai người có tài ngang nhau, Vua Hùng
Vương đã nêu ra một tiêu chuẩn thứ hai. Nhưng tiêu chuẩn nầy nằm ở
ngoài con người của hai thần. Đó là tiêu chuẩn thời gian « Ai đến
trước, người ấy sẽ là người thắng cuộc ».
Xét cho cùng, đây là một loại quyết định « Tránh
Né ». Khi phó thác trách nhiệm cho yếu tố thời gian, Vua Hùng Vương
không dám đảm nhận một cách sáng suốt mọi hậu quả của hành động.
Thêm vào đó, dựa vào thời gian để quyết định, là một
bất công trắng trợn. Hẳn thực, khoảng cách giữa Tản Viên và Phong
Châu làm sao có giá trị ngang bằng về mặt thời lượng, giữa Phong
Châu và Biển Đông, nơi cư ngụ của Thủy Tinh ?
Sau cùng, trong thực tế, Vua Hùng Vương đã chọn lựa
Sơn Tinh, vì biết rõ thế nào chàng cũng sẽ đến trước một cách dễ
dàng. Tuy nhiên Vua Hùng Vương không dám bộc lộ tình cảm của mình,
một cách trung thực và trực tiếp.
Thứ ba, trong tình huống cụ thể, chỉ có một người có
khả năng đề xuất tiêu chuẩn đánh giá, có giá trị và đáng khảo sát
một cách nghiêm chỉnh, đó là Mỵ Nương. Nàng yêu người nào ? Ai sẽ
làm cho nàng hạnh phúc ? Nàng có quyền diễn tả tiếng nói của con
tim, vì đây là vấn đề riêng tư của nàng.
Tuy nhiên, Vua Hùng Vương đã nghĩ đến tài nghệ và
của cải, khả dĩ mang lại lợi ích cho mình. Tâm tình của đứa con
không được coi trọng. Tình cảm giữa cha con là vấn đề thứ yếu, so
với tiền tài và uy lực…
Xuyên qua tất cả những nhận xét ấy, chúng ta có thể
khám phá những đặc điểm, có mặt trong tâm hồn và tính tình của Vua
Hùng Vương :
·
Xu thế áp đặt và kiểm soát tất cả, từ bên
trên và từ bên ngoài, trong mọi quan hệ tiếp xúc và trao đổi,
·
Lập trường Hơn-Thua chi phối mọi quyết định,
·
Tình cảm bị chối từ, coi nhẹ,
·
Ý đồ trục lợi biện minh mọi hành động.
Hai nhận xét sau đây còn bộc lộ thêm tính nghiêm
trọng và tầm độ phổ quát của nội kết, hay là vấn đề truyền kiếp của
người Việt Nam:
·
Theo lịch sử, Họ Hồng Bàng gồm có 18 đời vua,
từ Hùng Vương thứ nhất đến Hùng Vương thứ muời tám. Thế nhưng, trong
câu chuyện tranh chấp sống mái giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh, người cha
của Mỵ Nương là Vua Hùng Vương không niên lịch. Phải chăng câu
chuyện muốn nói đến tư cách, tính tình và cách thiếp lập quan hệ của
mọi người cha Việt Nam, trải qua mọi thời đại, từ nguyên thủy cho
đến ngày hôm nay ?
·
Thêm vào đó, quan hệ hay là lập trường
HƠN-THUA không phải chỉ có mặt ở đây mà thôi. Trong câu chuyện Bánh
Chưng Bánh Dầy, để tìm người nối ngôi, Vua Hùng Vương thứ nhất đã tổ
chức một cuộc thi tài. Từ ngày ấy, trong lòng Quê Hương Việt Nam,
« chữ TÀI liền với chữ TAI một vần ». Hẳn thực, bao lâu còn có những
cuộc « thi tài », để xếp đặt HƠN-THUA, là bấy lâu còn có CHIA RẼ,
HẬN THÙ. Nói cách khác, « Nồi da xáo thịt » phải chăng là một vòng
luân hồi bất tận, tiếp nối nhau, từ thế hệ nầy qua thế hệ khác, phát
xuất từ loại tư duy nhị nguyên nầy ?
2.- Bản Ngã của chúng ta là gì ?
Nhân vật chính yếu, cần đưa ra quyết định cuối cùng,
trong câu chuyện Sơn Tinh và Thủy Tinh, đáng lý phải là Mỵ Nương,
người con gái duy nhất của Vua Hùng Vương. Tuy nhiên, Mỵ Nương phải
chăng là tên tuổi đích thực của nàng công chúa ? Hay đó chỉ là tên
chung của mọi người con gái thùy mị, nết na, đức hạnh… trên Đất Nước
Việt Nam, tư thời Hồng Bàng đến nay ?
Tuy nhiên, « thùy mị, đức hạnh… », phải chăng đồng
nghĩa với tình trạng « không có tiếng nói, không có ý kiến, không có
quan điểm và lập trường, không có ý muốn và nhu cầu » ?
Thùy mị phải chăng còn có ý nghĩa « Cha mẹ đặt đâu,
con ngồi đấy » ? Là « đồ vật » được gả bán, cho người nào mang đến
nhiều vật lạ, của quí, làm đồ sính lễ, trước tất cả những người
khác ?
Thùy mị là « xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử »,
nghĩa là lấy chồng theo chồng, chồng chết theo con. Tòng cũng còn
mang ý nghĩa là phục tùng, vâng lời. Hẳn thực, trong lối nhìn của
nhiều người chồng, thậm chí vào thời đại văn minh ngày nay, tòng vẫn
còn mang ý nghĩa là trở thành đồ vật, thuộc quyền sở hữu của vị hôn
phu. Nhân cách và bản sắc hay là bản ngã của người phụ nữ Việt Nam
hệ tại ở chỗ nào ? Từ đời Hồng Bàng cho tới ngày hôm nay, Mỵ Nương
vẫn còn là mẫu mực và mẫu khuôn của mọi người phụ nữ Việt Nam. Tuy
nhiên, để trở thành tấm gương được mọi người qui chiếu, bắt chước,
phải chăng nàng phải đánh mất tất cả, thậm chí NHÂN CÁCH và NHÂN
PHẨM của mình ?
Thêm vào đó, trong câu chuyện Sơn Tinh và Thủy Tinh,
người MẸ không có mặt. Vấn đề cũng dễ hiểu, vì nếu người vợ đã không
có tiếng nói, thì người mẹ cũng không có mặt mũi và chân dung, chân
tướng gì cả. Vấn đề sẽ ít nghiêm trọng hơn, nếu kỳ thực người mẹ
vắng mặt hoàn toàn.
Theo Phân Tâm Học, có mặt mà xa lòng, có mặt mà
không có giá trị, có mặt mà không được kính trọng, trong đầy đủ mọi
chiều kích…còn tệ hơn là không có mặt. Người mẹ có mặt bên cạnh
người cha, mà đồng thời chỉ là « con người hạng hai, hạ đẳng », đó
là một tình huống tâm lý kinh hoàng, hãi hùng, khả dĩ phát sinh
nhiều khủng hoảng nội tâm và gây ra bao đổ nát, hoang tàn, trong
cuộc đời làm người và thành người.
Trong tình cảnh tâm lý bế tắc nầy, lối thoát duy
nhất và cuối cùng của đứa con thương mẹ, là GIẾT cha, để lập lại vị
trí của người mẹ, đối tượng yêu thương của mình, tư ngày sinh ra.
Đưa con có thể giết cha, bằng gươm. Bằng súng, bằng
bom đạn, để chiếm đoạt ngai vàng của cha. Một cách giết khác, bằng
hình tượng và gián tiếp, là hủy diệt mọi công trình của người cha.
Trong đó, có bản thân của chính mình.
Tình cảnh hai người cha mẹ Việt Nam, có mặt nhưng
không đồng hành, không trở thành « một xương một thịt », gắn bó với
nhau… Hay là vắng mặt, nhưng không bỏ nhau, vẫn lui tới với nhau,
khi cần thiết… Tình cảnh nầy, thực ra đã có mặt giữa Bà Âu Cơ và Lạc
Long Quân, tổ tiên của người Việt Nam :
« Ta thuộc giống RỒNG, nàng là giống TIÊN, thủy hỏa
khác nhau. Người thích ở cạn, người ưa ở nước, tính tình đôi bên
khác nhau, không cùng ở chung với nhau một nơi lâu được. Bây giờ một
nửa các con theo tôi, về Thủy Phủ. Còn một nửa thì ở lại với mẹ. Tuy
đôi bên, kẻ ở rừng. Người ở biển, song đến khi có việc gì, thì tin
cho nhau, không được bỏ nhau ».
Theo Phân Tâm Học, tình cảnh « vừa ở lại, vừa bỏ
đi », là nguyên nhân của tất cả mọi khủng hoảng và xung đột nội tâm.
Từ tình cảnh khai nguyên này, hai đứa con Việt Nam
không gặp nhau, trong yêu thương, đối thoại, chia sẻ, đồng cảm và
đồng hành. Không cùng ngồi lại với nhau. Không cùng nhau nhìn về một
hướng. Tranh chấp, xung đột, chém giết lẫn nhau… cũng là những cách
« tìm cho có việc, để gặp nhau ». Nhưng khi gặp nhau bằng cách nầy,
hai người chỉ làm nên những bãi tha ma, những Đại Lộ Kinh Hoàng,
những con Sông Nhật Lệ và Bến Hải.
Thêm vào đó, chiến tranh triền miên cũng là một hình
thức giải quyết tình cảnh « sống xa nhau, nhưng không được bỏ
nhau ».
Theo Phân Tâm Học, đây là một cơ chế « DỜI CHỖ »,
giải quyết bằng con đường chiến tranh, hận thù, tố cáo, chụp mũ, gắn
nhãn hiệu, khi chúng ta không có đủ can đảm để thú nhận : « Anh đi
đường Anh, tôi đi đường tôi, TÌNH NGHĨA đôi ta chỉ thế thôi ».
3.- Tự Ngã của chúng ta là gì ?
Tự Ngã, theo cách giải thích của Phân Tâm Học, là
năng động tạo nên hứng khởi thôi thúc con người đi tới, vươn lên,
xây dựng, đóng góp… nghĩa là dấn bước trên con đường YÊU THƯƠNG và
HẠNH PHÚC.
Sơn Tinh và Thủy Tinh là hai năng động ngược chiều,
chỉ vì Mỵ Nương là đối tượng tranh chấp và xung đột. Nói đúng hơn,
chính Vua Hùng Vương là người khởi xướng tình huống mâu thuẫn nầy,
do những đòi hỏi độc tài và phi lý của mình, còn được gọi là Siêu
Ngã độc tài và độc tôn. Bên cạnh Siêu Ngã nầy, Mỵ Nương chỉ là một
Bản Ngã nhợt nhạt, yếu ớt, bạc nhược, vô danh, lệ thuộc và hoàn toàn
bị động.
Sơn Tinh hội tụ mọi đức tính của Bà Âu Cơ. Thủy Tinh
phản ảnh tâm hồn của Lạc Long Quân. Xét riêng từng người, đây là hai
tài năng vượt bực. Nhưng những tài năng ấy đang được sử dụng không
đúng chỗ. Nói đúng hơn cả hai người bị lèo lái bởi một Siêu Ngã ở
ngoài và ở trên.
Đang lý ra, mỗi người cần ý thức mình là một giá trị
đích thực, và người đối diện cũng là một giá trị đích thực ngang
hàng và giống như mình. Từ đó, họ học tập NGỒI LẠI với nhau, cùng
nhau góp sức sáng tạo một con đường thích ứng với giá trị của nhau.
Đồng thời họ sáng suốt chấp nhận từ bỏ những con đường không tương
ứng với giá trị cao cả và bao la của mình.
Đối với Mỵ Nương, nếu cả hai thần thực sự YÊU nàng,
theo ý nghĩa toàn vẹn là CHO và NHẬN, họ sẽ đối xử với nàng như một
CON NGƯỜI có khả năng quyết định và chọn lựa. Của Cải, Tiền Tài, hay
là Thời Gian không phải là những yếu tố quyết định. Duy tình yêu mới
có tiếng nói cuối cùng. Chính vì lý do độc nhất và cuối cùng nầy,
khi Mỵ Nương đã diễn tả quyết định và chọn lựa của mình, một trong
hai người sẽ biết TRI CHỈ, dừng lại, can đảm rút lui, chọn lựa một
con đường khác.
Trong tinh thần và lăng kính ấy, TÌNH YÊU đâu phải
là con đường độc lộ và một chiều. Trái lại, Tình Yêu là CON ĐƯỜNG
ĐẠI LỘ thênh thang và bát ngát. Đó cũng là một vườn hoa có trăm hoa
kiều diễm. Mỵ Nương cho dù tài sắc đến đâu, cũng chỉ là một trong
muôn ngàn đóa hoa muôn màu muôn sắc, trên Đất Nước Vạn Xuân và Đại
Việt hay là Việt Nam.
Nói một cách vắn gọn, cho dù tài giỏi xuất chúng,
Sơn Tinh và Thủy Tinh đang thiếu tự tin một cách trầm trọng. Trái
lại, con người tư tin có khả năng CHO một cách vô điều kiện, khộng
cần người đối diện ĐÁP LỄ.
Thêm vào đó, con người TỰ TIN tìm cách giải quyết
những xung đột, bằng con đường tiếp xúc qua lại, trao đổi hai chiều,
đối thọai. Nói cách khác, họ NÓI với nhau bằng lời nói lich sự và
thanh nhã, thay vì dùng tay chân để đấm đá hay là sử dụng những
phương tiện bạo động, những ngôn từ đao to búa lớn…
Con người tự tin khám phá những đồng điểm, để xích
lại gần nhau hơn mỗi ngày. Khi có những dị điểm, họ biết tìm cách bổ
túc và kiện toàn cho nhau, ngày ngày mở lòng đón nhận quà tặng mà kẻ
khác đang mang đến, nhất là những gì mình chưa có.
Sở dĩ Sơn Tinh và Thủy Tinh đang còn thiếu tự tin,
vì người Mẹ của cả hai người đang vắng mặt. Hay nói một cách đứng
đắn hơn, Mẹ đang VẮNG MẶT trong tâm tưởng của họ. Cho nên họ lăng
xăng, loạn động, đi tìm một hình ảnh của mẹ ở ngoài. Và vì lý do ấy,
họ tìm cách chiếm đoạt một vài mảnh vụn của mẹ, khi có một người phụ
nữ xuất hiện ở bất cứ nơi đâu…
Chừng nào hai Thần Sơn và Thủy « sáng mắt và sáng
lòng », họ sẽ ý thức được rằng Mẹ Âu Cơ đang hiện diện một cách tích
cực và năng động, trong huyết quản của họ, cũng như đang có mặt
trong máu mủ của mỗi người anh chị em, trước mặt và hai bên cạnh.
Lúc bấy giờ, mặc cảm Sơn Tinh và Thủy Tinh sẽ nhường
bước cho khả năng đồng cảm và đồng hành, giữa những người đang chia
sẻ cùng một Nước Non như nhau và với nhau. Chính Thi sĩ Tản Đà đang
nhắc nhở cho chúng ta :
« NƯỚC Non nặng một Lời Thề,
« Nước đi đi mãi, Nước về cùng NON ».
Tháng tư năm 2007
Trên những nẻo đường của Nước Non.
NGUYỄN Văn Thành
Lausanne, Thụy Sĩ
Sách tham khảo :
1.- HOÀNG Trọng Miên - Việt Nam Văn Học Toàn Thư
- Tiếng Phương Đông, Saigon 1973.
2.- NGUYỄN Văn Thành - Đường vào Nội Tâm với Phân
Tâm Học - Tủ Sách Tình Người, Lausanne 1997.
3.- NGUYỄN Văn Thành - Sơn Tinh và Thủy Tinh : Hai
con đường, một Nước Non - Tủ Sách Tình Người 2003.
4,- NGUYỄN Văn Thành - Huyền Sử Việt Nam : Con
đường luyện vàng của Con Rồng Cháu Tiên - Tình Người, Hè 2004.
|