|
CHƯƠNG II
BÀI GIẢNG TRÊN NÚI: NHỮNG MỐI PHÚC THẬT
Phúc Âm Thánh Matthêu
(5, 1-10)
“Thấy đám đông, Đức Giêsu lên núi.
Ngài ngồi xuống và các môn đệ đến gần bên Ngài. Bấy giờ Ngài mở miệng
và dạy họ rằng:
Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó:
Nước Trời là của họ!
Phúc thay ai hiền lành: họ sẽ được
đất!
Phúc thay ai than khóc: họ sẽ được an
ủi!
Phúc thay ai đói khát sự công chính:
họ sẽ được no đủ!
Phúc thay ai xót thương: họ sẽ được
thương xót!
Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch:
họ sẽ nhìn thấy Thiên Chúa!
Phúc thay ai xây dựng hòa bình: họ sẽ
được gọi là con Thiên Chúa!
Phúc thay ai bị bách hại vì sự công
chính: Nước Trời là của họ!”
Ý nghĩa đoạn Phúc Âm theo Kitô giáo
Đoạn Phúc Âm nầy bắt đầu “Bài
Giảng Trên Núi”. “Tám Mối Phúc Thật” hay “Bát Phúc”
thường được gọi là “Hiến Chương Nước Trời”, trong đó Chúa
Giêsu cho thấy bản chất sự hạnh phúc đích thực cũng như sự chúc phúc
của Thiên Chúa như thế nào. Giáo huấn của Ngài được khắc ghi trong
truyền thống Thánh Kinh theo đó sự khôn ngoan và hạnh phúc đi
đôi với nhau. Tiếng Hy-Lạp “makarios” có ý nghĩa “vừa được
chúc phúc vừa phước hạnh” nữa.
Trong “Tám Mối Phước Hạnh” đó, Chúa
Giêsu cho chúng ta thấy bản chất đích thực của sự an sinh con người.
Những điều Phước Hạnh có tính cách nghịch lý đó diễn tả một sự cách
mạng luân lý trong bản chất con người chưa được hoàn thành. Vì vậy
Nước Trời vừa là một thực trạng “đang xảy ra” (hiện tại) vừa “sẽ đến”
(tương lai).
1.- “Tâm hồn nghèo khó” ám chỉ
những người nghèo nàn về của cải vật chất mà Chúa Giêsu đặc biệt quan
tâm, đồng thời cũng đề cập tới sự nghèo nàn tâm linh, tức thân phận
làm người phải tùy thuộc vào Thiên Chúa. Khi chúng ta biết rằng chúng
ta không thể tự thỏa mãn được mà phải liên thuộc và trách nhiệm lẫn
nhau, lúc đó chúng ta có “tâm hồn nghèo khó”. Trong ý nghĩa đó, từ
ngữ nầy cũng biểu thị những thái độ không sở hữu của cải vật chất và
không dính bén vào bất cứ sự vật nào.
2.- “Ai than khóc” được chúc
phúc bởi vì họ phải đương đầu với tình trạng ly cách chủ yếu khỏi
Thiên Chúa trong thế giới hiện thực. Ở đây sự đớn đau không thuần túy
ám chỉ sự đau khổ ngoại tại mà còn chính bản chất của thân phận con
người khổ đau trên hành trình hoàn thiện. Sự an ủi là trạng thái cứu
rỗi hay giải thoát.
3.- “Những người hiền lành” sẽ
thừa kế gia nghiệp đất đai. Sự bất bạo động là một phương cách tuyệt
hảo để chiến thắng sự dữ. “Đất đai” không nhất thiết ám chỉ
cuộc sống hiện tại ở đời nầy. Sự dữ luôn luôn tự hủy hoại. Điều thất
bại của sự dữ hệ tại ở chính sự hữu hạn của nó. Sự hiền lành dịu dàng
vượt thắng vì mang tính chất vô hạn.
4.- “Yêu mến điều công chính”
đem lại hạnh phúc. Sự công chính mang ý nghĩa kết hợp ý muốn con
người với ý muốn Thiên Chúa. Sự công chính không thể tách lìa với
lòng mẫn cảm thi thố trong cuộc sống.
5.- Những người mà chúng ta thực lòng
“xót thương” đến lượt họ sẽ trở thành những kẻ thương xót
người khác. Hai kiệt tác về lòng thương xót được đề cập tới trong
Phúc Âm bao gồm việc bố thí cho người nghèo và tha thứ
cho kẻ thù địch.
6.- Những người có “tâm hồn trong
sạch” sẽ thấy Thiên Chúa. Sự trong trắng của tâm hồn bao gồm ở
chỗ nhìn xem thực tại như đang xảy ra, không chút bi méo mó hay biến
dạng bởi lòng vị kỷ. Điều nầy khác với đức khiết tịnh phát xuất từ
lời khấn của tu sĩ và cũng khác với sự “trong sạch luân lý” theo ý
nghĩa thông thường.
7.- “Những người xây dựng hòa bình”
là con cái Thiên Chúa. Sự hòa giải những kẻ địch thù là một việc làm
của Kitô hữu thường được Phúc Âm khuyến khích. Những tác nhân kiến
tạo hòa bình đó đã thông phần với bản tính Thiên Chúa như Thánh
Phê-rô đã nói trong một thánh thư của ngài, bởi vì bản tính của Thiên
Chúa là mang lại “hòa bình và hợp nhất” ở nơi nào mà sự bất
hòa và chia rẽ thống trị.
8.- Trong câu kế tiếp, tín đồ được
đảm bảo là “sự đau khổ mà họ chấp nhận vì Chúa Giêsu” sẽ được
phần thưởng lớn lao. Ở đây Chúa Giêsu ngỏ lời với các môn đệ. Sự đau
khổ của cá nhân Kitô hữu được hội nhập với Ngài một cách riêng tư.
Những Kitô hữu đầu tiên cũng là một cộng đoàn bé nhỏ bị bách hại.
Sau cùng, Chúa Giêsu mạc khải cho các
môn đệ tầm vóc quan trọng của họ trong trần thế - đó là trở nên “muối”
trong cuộc sống hiện thực và “ánh sáng” của chân lý. Sứ vụ của
họ phải được người đời nghe và thấy qua những công việc phát xuất từ
con tim nhân hậu.
Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma
(bàn luận về đau khổ - nhân quả -
Thiên Chúa)
“Đọc những dòng “Phúc Thật” nầy, điều
trước tiên tôi nghĩ đến là đoạn nầy ám chỉ một việc đơn giản là những
ai muốn cam kết dấn thân trên một hành trình tu đức và chấp nhận
những “thử thách cùng khổ đau” mà hành trình đó mang lại thì
sẽ lãnh nhận phần thưởng do sự cam kết dấn thân của họ.
Khi các văn bản nói về đức “khoan
dung” (nhẫn hòa) đòi buộc quí bạn phải chấp nhận thực tại của thử
thách và đau khổ, chúng ta sẽ sai lầm khi quyết đoán rằng chịu khổ
đau là điều tuyệt hảo, là điều tất cả chúng ta phải nên tìm kiếm.
Tuyệt nhiên tôi không tán thành một quan điểm như vậy. Theo tôi tưởng,
mục đích đời sống chúng ta là “tìm kiếm hạnh phúc”, tìm kiếm
sự thỏa thích và viên mãn. Tuy nhiên, vì những “thử thách và đau
khổ là một thành phần trong đời sống” con người, đương nhiên
chúng ta phải tiếp cận chúng một cách thực tế hơn ngõ hầu có thể rút
tỉa một vài lợi ích.
Khi xem xét bản chất “đau khổ”,
chúng ta nhận thấy có loại đau khổ người ta có thể tìm ra giải pháp
để nhờ đó vượt thắng được. Nhưng cũng có loại đau khổ không thể
tránh né và lướt thắng, vì đó là những sự kiện tự nhiên trong
cuộc sống hằng ngày. Trong trường hợp đó, thật quan trọng để triển
khai một trạng thái tinh thần cho phép tiếp cận sự khổ đau một cách
thực tế hơn. Khi hành xử như thế, có lẽ quí bạn sẽ đạt tới sự chấp
nhận những khó khăn đó bao lâu chúng xuất đầu lộ diện. Thái độ đó sẽ
che chở quí bạn, không nhất thiết khỏi thực tế của sự khổ đau về mặt
thể lý nhưng khỏi gánh nặng tâm lý phụ thuộc và sẽ trở nên vô ích khi
chống trả lại.
Một trong những cách thức hữu hiệu
nhất để đối phó với khổ đau được trình bày trong “Bồ-Tát Hạnh”
là nếu một khó khăn mà có phương cách thoát ly thì không nên bận tâm
vô ích. Nếu ngược lại, không có phương cách thoát ly thì việc bận tâm
chả ích lợi gì!
Những dòng chữ “Phúc Thật” nầy đối
với tôi hình như cũng đề cập đến “nguyên lý nhân quả”. Nếu từ
chuyên môn Phạn ngữ “karma” (nghiệp) không thấy xuất hiện
trong ngữ cảnh Thánh Kinh thì nguyên lý đại cương về nhân quả, ngấm
ngầm trong học thuyết “karma” (nghiệp) đối với tôi xem ra được nhắc
nhở ở đây. Những câu “Phúc Thật” trên đây muốn ám chỉ rằng nếu người
ta hành động thế nào người ta sẽ gặt lấy hậu quả thế đó và nếu người
ta không hành động thế đó, người ta sẽ không nhận lãnh hậu quả thế
kia. Rõ ràng nguyên lý nhân quả được hàm chứa trong huấn dụ nầy.
Mặc dù những truyền thống tâm linh
lớn trên thế giới không đề cập tới vấn đề nhân quả dưới góc độ những
chu kỳ luân hồi tái sinh nhiều kiếp, tuy nhiên xem ra có một sứ điệp
cốt lõi dựa trên “nguyên lý nhân quả”, chung cho mọi truyền
thống đó. Nghĩa là, nếu bạn làm điều lành, bạn sẽ được những kết quả
mong muốn và nếu bạn làm điều dữ, bạn sẽ hứng chịu những kết quả
ngoài ý muốn. Sứ điệp đạo đức căn bản đó xem ra gắn liền với mọi
truyền thống tâm linh lớn trên thế giới.
Một điểm phụ thuộc ở đây cũng rất
thích thú cần được ghi nhận đó là sự tương đồng nổi bật về “cách
hành văn giữa các văn bản Kitô giáo và Phật giáo”. Để bắt đầu
những Mối Phúc Thật, Phúc Âm ghi rằng khi thấy đám đông, Chúa Giêsu
lên núi, ngồi xuống, v.v…Người ta cũng gặp những đoạn mở đầu tương tự
trong nhiều “sutras” (Kinh Phật). Các Kinh Phật thường kể lại vào một
thời nào đó, Đức Phật thăm viếng một nơi nào đó, ngài đã được một số
đông đệ tử vây quanh, ngài đã ngồi xuống và bắt đầu giảng dạy. Do đó
có một sự tương đồng thích thú trong cách hành văn trình bày những
đoạn tương tự.
Một khái niệm khó khăn đã trở thành
vấn đề ở đây - nhất là đối với Phật tử - đó là khái niệm một đấng
thần linh - THIÊN CHÚA. Dĩ nhiên, có thể khi đề cập như thế,
người ta cho rằng đó là một điều không thể diễn tả được, một điều
ở bên kia ngôn từ và khái niệm. Nhưng phải công nhận rằng trên
bình diện lý thuyết, những ý niệm về “Thượng Đế và Sáng Tạo”
là một quan điểm bất đồng giữa Phật tử và Kitô hữu. Tuy nhiên, tôi
tin rằng những lý lẽ và những suy tư đưa tới một niềm tin như thế thì
chung cho cả Phật tử và Kitô hữu.
Nếu ta xem xét bản chất mọi hiện
tượng tự nhiên, lương tri nói với chúng ta rằng mọi biến cố đều có
một “nguyên nhân”. Phải có những nguyên nhân và những điều
kiện nào đó (tức “nhân và duyên”) mới phát sinh một
biến cố. Điều đó chẳng những đúng với đời sống cá nhân chúng ta mà
cũng đúng với toàn thể vũ trụ bên ngoài. Theo một nghĩa chung chung,
cho rằng một sự việc không có nguyên nhân - dù ở trong vũ trụ hay đời
sống cá nhân chúng ta - là điều không thể chấp nhận được.
Do đó vấn đề được đặt ra như sau:
trong trường hợp đó, nếu đời sống chúng ta phải có một nguyên nhân -
nếu ngay cả vũ trụ bên ngoài cũng phải có một nguyên nhân - thì
nguyên nhân đó từ đâu tới? Và kết quả là nguyên nhân đó chính nó
cũng phải có một nguyên nhân khác, và cứ như thế chúng ta “lùi lại vô
cùng tận”.
Để vượt lên trên sự khó khăn về một
sự lùi lại vô cùng tận như thế, thật hữu ích để đưa ra định đề về
một khởi điểm - một “Đấng Tạo Hóa” - và chấp nhận một số
chân lý về bản chất của Đấng Tạo Hóa: Ngài độc lập, tự sinh ra,
toàn năng và không đòi buộc một nguyên nhân nào khác. Chấp nhận
một khởi điểm như vậy giúp giải quyết vấn đề lùi lại vô cùng tận.
Nếu người ta đưa ra định đề về một
Đấng Tạo Hóa như thế và nếu người ta xem xét lịch trình tiến hóa từ
Big-Bang và toàn bộ bí mật vũ trụ, người ta đương nhiên phải công
nhận “Đấng Tạo Hóa có toàn quyền tuyệt đối”.
Ngoài ra, nếu người ta xem xét bản
chất vũ trụ, người ta nhận thấy vũ trụ không vận hành một cách hoàn
toàn hỗn độn và ngẫu nhiên. Xem ra có một trật tự chặt chẽ,
một nguyên tắc nhân quả hoạt động. Như thế người ta cũng phải chấp
nhận “Đấng Tạo Hóa toàn tri”, như thể mọi tiến trình đã được
kế hoạch hóa hết. Nhìn dưới góc cạnh nầy, mọi tạo vật theo một cách
nào đó đều là những biểu tượng của thần lực linh thiêng kia.
Và đứng trên quan điểm đó, lại một
lần nữa, người ta có thể nói Đấng Tạo Hóa là “cùng đích” và
tạo vật là “tương đối”, vô thường. Trong ý nghĩa đó, người ta
có thể nói “Đấng Tạo Hóa là chân lý tuyệt đối và cùng đích”.
Nhưng tôi không biết các thần học gia Kitô giáo nghĩ như thế nào về
điều đó!
Riêng cá nhân tôi, khi xem xét ý niệm
về Tạo Hóa và niềm tin ở một Đấng Tạo Hóa, tôi tự nhủ kết quả chính
của niềm tin đó là bơm vào một động lực, một tình cảm khẩn trương
trong việc cam kết của hành giả trở nên một con người lương hảo, một
con người có kỷ cương về mặt đạo đức. Khi bạn được trang bị một quan
niệm và một niềm tin như thế, điều đó cũng mang lại một đích điểm cho
cuộc sống bạn. Điều đó thật rất hữu ích để phát triển những “nguyên
tắc luân lý”.
Đó, tôi hiểu thần học Kitô giáo như
thế đó!”
MỤC
LỤC
|