|
CHƯƠNG VII
ĐỨC TIN
Phúc Âm Thánh Gioan
(12, 44-50)
“Đức Giêsu lớn tiếng nói rằng: “Ai
tin vào tôi, thì không phải là tin vào tôi, nhưng là tin vào Đấng đã
sai tôi; ai thấy tôi là thấy Đấng đã sai tôi. Tôi là ánh sáng đến thế
gian, để bất cứ ai tin vào tôi, thì không ở lại trong bóng tối. Ai
nghe những lời tôi nói mà không tuân giữ, thì không phải chính tôi
xét xử người ấy, vì tôi đến không phải để xét xử thế gian, nhưng để
cứu thế gian. Ai từ chối tôi và không đón nhận lời tôi, thì có quan
tòa xét xử người ấy: chính lời tôi đã nói sẽ xét xử người ấy trong
ngày sau hết. Thật vậy, không phải tôi tự mình nói ra, nhưng là chính
Chúa Cha, Đấng đã sai tôi, truyền lệnh cho tôi phải nói gì, tuyên bố
gì. Và tôi biết: mệnh lệnh của Người là sự sống đời đời. Vậy, những
gì tôi nói, thì tôi nói đúng như Chúa Cha đã nói với tôi.”
Ý nghĩa đoạn Phúc Âm theo Kitô giáo
Truyền thống đã đồng nhất tác giả
Phúc Âm Thánh Gioan với “môn đệ mà Chúa Giêsu yêu dấu”. Tác giả đó
trình bày Đức Giêsu như là “Logos” (từ ngữ Hy-Lạp có nghĩa là
“Lời). Cuộc đời và giáo huấn của Chúa Giêsu được nhận diện
dưới ánh sáng của sự Minh Triết toàn diện đối chiếu một ý nghĩa tượng
trưng cho mỗi một chi tiết liên hệ đến cuộc đời Chúa Giêsu. Những
truyền thống sơ khởi của Hội Thánh không đề cập minh nhiên đến Chúa
Giêsu như là chính Thiên Chúa. Đó là giáo lý của những thế kỷ sau.
Dù sao, Thánh Gioan nói về tương quan mật thiết nối kết Chúa Giêsu và
Thiên Chúa. Ngài tự đặt mình vào tương quan với Thiên Chúa trong một
liên hệ đặc biệt giữa “Cha và Con”.
Đoạn Phúc Âm nầy tóm tắt nhiều bài
thuyết giảng của Chúa Giêsu trong Phúc Âm Thánh Gioan. Trong những
lời lẽ đó, chúng ta phải lắng nghe tiếng nói của Chúa Giêsu và điều
mà những Kitô hữu tiên khởi nghĩ về Chúa Giêsu. Chúa Giêsu luôn luôn
đặt trọng tâm ý thức của Ngài ở nơi Cha. Vì vậy, nếu người ta tin
tưởng Ngài, thực sự người ta tin Thiên Chúa, chứ không phải chỉ tin
Ngài mà thôi. Ngài nói rằng “Cha đã sai Ngài” - điều đó có
nghĩa là cuộc đời của Ngài là một “sứ vụ”.
Thấy Chúa Giêsu chính là thấy Cha đã
sai Ngài. Mối dây liên kết Chúa Giêsu với Cha Ngài thì bất khả phân
ly (hay “advaitic” như người ta thường đề cập tới trong giáo lý Ấn-Độ
giáo). “Advaitic” có nghĩa là “bất nhị”, qui về giáo lý
bất nhị trong Ấn-Độ giáo. Thiên Chúa và vũ trụ chẳng hạn, không phải
một mà cũng không phải hai.
Chúa Giêsu được trình bày như là “Ánh
Sáng đến trong thế gian” để phá tan bóng tối. Do đó Đức
Tin đặt để nơi Chúa Giêsu có ý nghĩa nhiều hơn là một niềm tin thuần
tín lý. Đức Tin đó là một tương quan có tính cách cá nhân đối với
Ngài và vì vậy với thực tế mà qua đó Ngài tương giao. Chính sự tương
quan đó tạo thành “quá trình khai ngộ” phá tan những bóng tối
của sự vô minh và tham úy đang ngự trị nơi con tim nhân loại.
Mối liên hệ Đức Tin là “hodos”
(từ ngữ Hy-Lạp dùng trong Phúc Âm) hay là con đường sống đạo của Kitô
hữu. Chúa Giêsu đã nói: “Cha và tôi chỉ là một”. Ngài cũng còn
nói: “Cha thì lớn hơn tôi”. Đó là hai khía cạnh của sự tương
giao giữa Chúa Giêsu và Cha Ngài, cũng là Cha chúng ta nữa.
Trải qua bao thế kỷ, những tư tưởng
gia Kitô giáo đã triển khai giáo thuyết về “Thiên Chúa Ba Ngôi”
nhằm để ý tới mối dây liên kết đó, mối dây cứu độ, biến đổi và hoàn
tất. “Cha” là nền tảng của Bản Thể vô hình và không thể biết
được, “Con” (đã nhập thể trong Đức Kitô) được Cha yêu mến. Và
tình yêu hỗ tương giữa Cha và Con là “Thánh Thần”, tức Ngôi
Thứ Ba trong Thiên Chúa Ba Ngôi. Do đó Thiên Chúa là “ba trong một”.
Chúa Giêsu đã hứa sẽ sai Thánh Thần vào trong thế gian sau khi Ngài
không còn được nhìn thấy trên mặt đất - tức sau khi Ngài chết, phục
sinh và cuối cùng trở về với Cha.
Trong đoạn kinh văn này, Chúa Giêsu
nói rõ Ngài không luận phạt thế gian. Nếu có ai đó chối từ chân lý
của Ngài, thì họ đã tự kết án, vì tất cả những gì Ngài rao giảng là “Chân
Lý của Chúa Cha”.
Chúa Giêsu tuyên bố những giới răn
của Cha có “sự sống đời đời”. Ngài cũng nói là Ngài đã đến để
mọi người được sự sống sung mãn. Sự sống đời đời không chỉ là một sự
hiện hữu vô tận. Cuộc sống đời đời biểu hiệu cho một sự triển khai
trọn vẹn của tiềm năng ý thức nơi con người.
Giới răn duy nhất mà Chúa Giêsu nhấn
mạnh là “tình yêu hỗ tương”. Vậy thì ý thức trọn vẹn là một sự
thể hiện hoàn toàn khả năng yêu thương nhau của con người. “Tình
Yêu” chính là bản chất của Thiên Chúa (Cha yêu Con và tình yêu đó
là Thánh Thần).
Mọi người được mời gọi thông phần vào
bản tính siêu nhiên của Thiên Chúa, trở nên thần tính do tình yêu (cũng
như chúng ta đã thấy trong đoạn trích Phúc Âm Thánh Matthêu trước đây)
để học hỏi yêu mến Thiên Chúa như Thiên Chúa yêu thương - một cách vô
điều kiện và phổ quát.
Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma
“Đoạn Phúc Âm trích dẫn nầy của Thánh
Gioan đối với tôi xem ra là một đoạn quan trọng trong Thánh kinh.
Điều trước tiên đập vào mắt tôi là sự giống nhau một cách chặt chẽ
với một đoạn đặc biệt trong kinh điển Phật giáo mà trong đó Đức Phật
đã công bố là hễ ai nhận ra nguyên tắc “hệ thuộc hỗ tương” thì
thấy “Pháp” (Dharma) và hễ ai thấy Pháp là thấy “Đức
Phật Như Lai” (Tathagata). Kết quả là do sự hiểu biết bản chất sự
hệ thuộc hỗ tương, do sự hiểu biết Pháp (Dharma), người ta hiểu bản
chất đích thực của phật tính.
Một khía cạnh khác của vấn đề là dùng
giác quan để nhận chân thân thể của Đức Phật mà thôi thì không tương
ứng với thị kiến đích thực về chính Ngài. Để thấy Đức Phật thật sự,
phải ý thức “Pháp Thân” (Dharmakaya) là “Thân Chân Lý”
của Đức Phật. Chính đó mới thấy Đức Phật thật.
Cũng thế, đoạn nầy nhấn mạnh rằng
chính nhờ sự nhân cách hóa có tính cách sử tính của Đức Kitô mà người
ta mới có kinh nghiệm đích thật về Cha mà Ngài biểu hiện. Đức Kitô là
đường đưa tới sự gặp gỡ Cha.
Cũng ở đây, chúng ta tìm thấy ẩn dụ
về “ánh sáng”, điều đó chung cho hết mọi truyền thống tôn giáo.
Trong ngữ cảnh Phật giáo, ánh sáng gắn liền một cách chặt chẽ với “trí”,
tức sự minh triết và quán thông; bóng tối là đặc điểm của vô minh và
là một trạng thái thiếu hiểu biết, trạng thái vô ngộ.
Điều nầy tương ứng với hai khía cạnh
của đạo pháp: “khía cạnh kỹ thuật” bao gồm những việc thực
hành như bi và nhẫn, và “khía cạnh trí” hay sự quán
thông, tức một sự nhận thức minh bạch thấu suốt bản chất của thực
tại. Chính khía cạnh quán thông hay trí của đạo là phương thuốc hiệu
nghiệm để giải trừ vô minh.
Vì đoạn Phúc Âm này cũng nhấn mạnh
tới sự quan trọng của đức tin trong việc thực hành linh đạo của mỗi
người, tôi thiết nghĩ sẽ rất hữu ích để dẫn giải đôi chút về nhận
thức Phật giáo đối với đức tin. Từ ngữ Tây-tạng để chỉ “đức tin”
là “day-pa” có nghiã tương tự như ý niệm “tín thác” hay
“tin chắc”.
Truyền thống Phật giáo phân biệt “ba
loại đức tin” khác nhau. Loại thứ nhất là “lòng ngưỡng mộ”
đối với một nhân vật đặc biệt hay một trạng thái đặc biệt. Loại thứ
hai là đức tin “mong ước”. Người ta tìm thấy ở đây ý niệm thi
đua, tức mong muốn đạt tới thể trạng đó. Loại thứ ba là đức tin mang
tính cách “xác tín”.
Tôi thiết nghĩ cả ba loại đức tin đó
cũng tương đương trong ngữ cảnh Kitô giáo. Chẳng hạn, một Kitô hữu
sống đạo thật trong khi đọc và suy tư về đời sống Đức Giêsu thì phát
sinh lòng “mộ mến” và tôn sùng mãnh liệt đối với Ngài. Kế đó,
bằng cách củng cố lòng ngưỡng mộ và đức tin của mình, họ có thể đạt
tới giai tầng thứ hai tức đức tin “mong ước”. Nến bạn là Phật
tử, bạn mong ước đạt tới phật tính.
Với tư cách người Kitô hữu, bạn không
dùng những từ ngữ đó, nhưng có thể nói được là bạn ao ước đạt tới sự
hoàn thiện của thiên tính, đạt tới sự nhiệm hiệp với Thiên Chúa. Cuối
cùng, một khi sự ao ước đó đã được triển nở, bạn đạt tới niềm “xác
tín thâm sâu” là bạn có thể thực hiện một cách sung mãn trạng
thái đó. Đó là giai tầng thứ ba về đức tin. Tôi thiết nghĩ ba giai
tầng đó của đức tin cũng có thể áp dụng được trong bối cảnh Phật giáo
hay Kitô giáo.
Phật giáo luôn luôn nhấn mạnh đến nhu
cầu phải “liên kết đức tin với lý trí” để làm cho linh đạo của
mình được tiến bộ. Ngài Long Thọ (Nagarjuna) - minh sư Ấn Độ ở thế kỷ
thứ hai - đã công bố trong một chuyên luận thời danh của ngài, “Kinh
Hoa Nghiêm”, là đức tin và lý trí hay đức tin và óc phân tích,
đều là những điều phải có đối với một hành giả tâm linh.
Đức tin dẫn đưa bạn đến một cuộc sống
nội tâm cao hơn, trong khi lý trí và tinh thần phân tích dẫn đưa bạn
đến sự giải thoát hoàn toàn. Điều quan trọng là trong bối cảnh của
linh đạo chúng ta, đức tin phải được xây đắp trên lý trí và sự hiểu
biết.
Để triển khai một đức tin xuất phát
từ lý trí hay sự hiểu biết, một hành giả tâm linh lúc khởi đầu phải
chứng tỏ có “tinh thần cởi mở”. Vì không có một từ ngữ thích
ứng để diễn đạt, chúng ta có thể gọi trạng thái đó là một sự “ngờ
vực lành mạnh”. Khi bạn ở trong trạng thái cởi mở đó, bạn có thể
lý luận và qua tiến trình lý giải, bạn có thể triển khai một sự hiểu
biết nào đó.
Khi sự hiểu biết đó được củng cố sẽ
phát sinh một sự tín thác, một tín ngưỡng hay một sự “vững tin”
ở nơi đối vật đó. Như vậy, đức tin đó, sự tín thác và sự tin chắc đó
sẽ rất vững chãi bởi vì đức tin đó đâm rễ sâu trong lý trí và sự hiểu
biết.
Chính vì thế mà chúng ta nhận thấy
Đức Phật, trong những kinh điển của Ngài, thường cảnh cáo những đệ tử
chỉ chấp nhận lời Ngài vì sự tôn kính đối với cá nhân của Ngài. Ngài
khuyên bảo họ hãy “kiểm chứng các lời Ngài nói”, cũng giống
như ông thợ bạc giảo nghiệm đặc tính của vàng ròng bằng những phương
pháp rất khắt khe. Chỉ khi họ thông hiểu, họ mới có thể chấp nhận
tính cách chính xác của những điều Ngài giảng dạy.
Trong đoạn Phúc Âm nầy, tôi thấy nói
tới việc ánh sáng phá tan bóng tối, ngay sau khi nhắc tới sự cứu rỗi.
Để liên hệ hai ý tưởng đó, tôi có thể nói được rằng “bóng tối của
sự vô minh được đánh tan bởi sự cứu rỗi chân chính”, tức trạng
thái được giải thoát. Trong ý nghĩa đó, có thể hiểu nghĩa lý của
chính sự cứu rỗi trong bối cảnh Kitô giáo được.
Định rõ bản chất chính xác của sự “cứu
rỗi” là một nan đề khá phức tạp. Trong những hệ thống tôn giáo
khác nhau của Ấn-Độ cổ đại, nhiều người chấp nhận một hình thức nầy
hay một hình thức khác về ý niệm cứu rỗi. Từ ngữ Tây-Tạng để chỉ “cứu
rỗi” là “tharpa” có nghĩa là “trả lại tự do” hay “sự
tự do”.
Nhiều truyền thống khác không chấp
nhận những ý niệm như thế. Nhiều môn phái chủ trương những ảo giác
của trí thức đã gắn liền với trí thức hay đó là một yếu tố nội
tại và đương nhiên là một thành phần của chính bản chất lý trí.
Theo họ, không mảy may nào có được sự
giải thoát bởi vì những phủ định tính và những ảo giác đã gắn liền
với lý trí và không thể nào tách biệt được. Cho dẫu những người chấp
nhận một ý tưởng nào đó về sự cứu rỗi hay giải thoát, họ bất đồng ý
kiến rất nhiều về định nghĩa và những đặc tính liên hệ đến trạng thái
cứu rỗi đó.
Chẳng hạn, trong vài môn phái cổ thời
Ấn-Độ, trạng thái cứu rỗi có chiều hướng muốn mô tả bằng từ ngữ không
gian hay “môi trường ngoại vi” có những đặc tính tích cực mang
hình dáng một cái lọng lộn ngược.
Tuy nhiên, nếu có vài truyền thống
Phật giáo chấp nhận ý niệm cứu rỗi, những truyền thống đó chỉ xem sự
cứu rỗi như là trạng thái tinh thần hay tâm linh có tính cách đặc thù
đối với cá nhân đó, “trạng thái hoàn thiện của trí óc”, hơn là
có tính cách môi trường ngoại diện.
Phật giáo hoàn toàn chấp nhận ý niệm
về “những thế giới thuần khiết của chư Phật”, tức những trạng
thái thuần khiết mà sự biến hiện phát xuất từ những tiềm lực tích cực
của nghiệp quả đối với cá nhân. Cũng có thể những người bình thường
được tái sinh và tham dự vào những thế giới thuần khiết của chư Phật.
Chẳng hạn, đối với những Phật tử, môi
trường vật chất - tức trái đất hay quả địa cầu nầy - không thể được
coi như một thế giới hoàn hảo được. Nhưng ở trong thế giới nầy, người
ta có thể nói được rằng có những cá nhân đã đạt tới Niết-Bàn và sự
giác ngộ trọn vẹn. Theo Phật giáo, sự cứu rỗi hay sự giải thoát phải
được hiểu như là một “trạng thái nội tại”, một trạng thái
triển khai về tâm linh.”
Còn Kitô giáo quan niệm thế nào về ‘thiên
đàng’? ”
Cha Laurence
“Thiên đàng là kinh nghiệm về
sự chia sẻ niềm vui, sự an bình và tình yêu của Thiên Chúa trong sự
viên mãn của khả năng con người.”
Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma
“Vậy thì không nhất thiết phải liên
kết với một không gian vật chất?”
Cha Laurence
“Không. Điều đó chỉ có trong giấc
mộng.”
Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma
“Ngược lại, bằng cách quảng diễn,
người ta có thể hiểu rằng “hỏa ngục” như là một “trạng thái
tinh thần rất tiêu cực”, sự lầm lạc?”
Cha Laurence
“Vâng, đúng thế.”
Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma
“Điều đó có nghĩa là không nhất thiết
phải nghĩ tưởng hỏa ngục hay thiên đàng như là một môi trường ngoại
vi?”
Cha Laurence
“Không. “Hỏa ngục” là sống
trong “trạng thái xa rời Thiên Chúa”, điều nầy tự bản chất là
phi thực. Đó là một trạng thái ảo tưởng bởi vì không điều gì có thể
tách rời khỏi Thượng Đế. Tuy nhiên, nếu chúng ta tưởng rằng chúng ta
tách rời khỏi Thượng Đế, tức nhiên chúng ta đang ở trong hỏa ngục.”
Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma
“Trong Phúc Âm, Đức Giêsu nói: “Tôi
không đến để kết án…Lời tôi đã nói ra, chính lời đó sẽ đoán xét.”
Tôi thiết tưởng điều nầy phản ảnh một cách chính xác về ý niệm
“nghiệp” (karma) trong Phật giáo. Không có một Đấng biệt lập “ở
trên cao” làm trọng tài về việc người ta phải sống như thế nào và
phải hiểu biết ra sao; ngược lại, điều đó hàm chứa chân lý trong
chính “nguyên tắc nhân quả”.
Nếu người ta hành động một cách đạo
đức hay có kỷ cương, sẽ gặt hái những hậu quả mong muốn. Nếu người ta
hành động một cách tiêu cực hay thiếu lành mạnh, người ta phải gánh
chịu những hậu quả xấu. “Chân lý của định luật nhân quả là thẩm
phán”, chứ không phải là một Đấng hay một nhân vật sẽ phán quyết.
Quí bạn nghĩ sao?”
Cha Laurence
“Trong Thánh kinh người ta tìm thấy
một ẩn dụ có tích cách thi phú về việc Thiên Chúa đã phạt nhân loại
vì tội lỗi của họ. Nhưng tôi thiết nghĩ giáo huấn của Chúa Giêsu đã
vượt lên trên hình ảnh Thiên Chúa đoán phạt và thay thế bằng hình ảnh
“Thiên Chúa yêu thương vô điều kiện”.
Tội lỗi vẫn có đó. Tội lỗi là một sự
kiện. Nhưng sự trừng phạt liên kết với tội lỗi thì gắn chặt vào chính
tội lỗi. Thay vì phải nhấn mạnh vào luật nhân quả, cho dù điều đó xem
ra hợp lý, tôi thiết nghĩ Kitô hữu nên nhấn mạnh đến sự “tự do ý
chí”. Chúng ta hành xử sự tự do ý chí ở trong những lãnh vực đó,
ít nhất là trong một chừng mực nào đó.”
MỤC
LỤC
|