|
CHƯƠNG VIII
SỰ PHỤC SINH
Phúc Âm Thánh Gioan
(20, 10-18)
“Sau đó, các môn đệ lại trở về nhà.
Bà Maria Macđala đứng ở ngoài, gần bên mộ, mà khóc. Bà vừa khóc vừa
cúi xuống nhìn vào trong mộ thì thấy hai thiên thần mặc áo trắng ngồi
ở nơi đã đặt thi hài của Đức Giêsu, một vị ở phía đầu, một vị ở phía
chân. Thiên thần hỏi bà: “Nầy bà, sao bà khóc?” Bà thưa: “Người ta đã
lấy mất Chúa tôi rồi, và tôi không biết họ để Người ở đâu!” Nói xong,
bà quay lại và thấy Đức Giêsu đứng đó, nhưng bà không biết là Đức
Giêsu. Đức Giêsu nói với bà: “Nầy bà, sao bà khóc? Bà tìm ai?” Bà
Maria tưởng là người làm vườn, liền nói: “Thưa ông, nếu ông đã đem
Người đi, thì xin nói cho tôi biết ông để Người ở đâu, tôi sẽ đem
Người về.” Đức Giêsu gọi bà: “Maria!” Bà quay lại và nói bằng tiếng
Híp-ri: “Rap-bu-ni!” (nghĩa là 'Lạy Thầy!'). Đức Giêsu bảo: “Thôi,
đừng giữ Thầy lại, vì Thầy chưa lên cùng Chúa Cha. Nhưng hãy đi gặp
anh em Thầy và bảo họ: “Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của
anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em.”
Bà Maria Macđala đi báo cho các môn đệ: “Tôi đã thấy Chúa”, và bà kể
lại những điều Người đã nói với bà.”
Ý Nghĩa đoạn Phúc Âm theo Kitô giáo
Sự Phục Sinh của Chúa Giêsu là nền
tảng đức tin Kitô giáo. Không có Phúc Âm nào mô tả lại chính khoảnh
khắc lúc Chúa Phục Sinh. Nhưng tất cả đều ghi lại sự hiện ra của Chúa
Giêsu với các môn đệ Ngài dưới một hình hài thể lý - một thân xác
tinh tế hay thần linh - sau khi Ngài qua đời. Trong bốn Phúc Âm được
Giáo hội công nhận, cuộc sống của Chúa Giêsu được viết lại theo thể
văn “hồi ký”, bắt đầu từ kinh nghiệm về sự Phục Sinh của Chúa
Giêsu.
Trong tất cả các Phúc Âm, Chúa Giêsu
Phục Sinh xuất hiện trước hết với các phụ nữ. Trong đoạn Phúc Âm
Thánh Gioan được kể lại đây, chính Chúa Giêsu đã hiện ra với bà Maria
Macđala - một nữ đệ tử thân tín với Ngài - theo truyền thuyết được
xác định là cô gái giang hồ đã ăn năn trở lại, được tường thuật trong
Phúc Âm.
Cuộc gặp gỡ đầu tiên với Đấng Phục
Sinh gây nên bối rối, ngờ vực và ngay cả hoài nghi hoàn toàn đối với
các môn đệ, mặc dù Chúa Giêsu đã tiên báo sự Phục Sinh của Ngài “sau
ba ngày”. Ba ngày là một biểu hiệu của Thánh kinh để chỉ một chu kỳ
thời gian trọn vẹn.
Bà Maria Macđala nhìn vào trong chiếc
mộ trống và thấy hai “thiên thần hay thiên sứ”. Tiếng
Hy-Lạp “angelos” (thiên thần) ám chỉ sứ giả. Bà Maria
không nhận ra họ như vậy. Nhưng khi các thiên thần hỏi bà tại sao
khóc thì bà hỏi có biết xác Chúa Giêsu được đặt để ở đâu không.
Rồi thì bà quay mặt lại và thấy Chúa
Giêsu đứng bên cạnh nhưng không nhận ra Ngài. Chúa Giêsu cũng hỏi bà
tại sao khóc. Bà tưởng đó là người làm vườn và hỏi đã để xác Chúa
Giêsu ở đâu. Rồi thì Chúa Giêsu kêu tên bà, điều đó đã mở con tim và
trí óc bà ra. Lúc bấy giờ bà nhận biết Chúa Giêsu và gọi Ngài một
cách âu yếm “Thầy!”
Chúa Giêsu gọi bà Maria bằng chính
tên của bà khiến người ta nhớ lại một đoạn trước đây của Phúc Âm
Thánh Gioan mà Chúa Giêsu tự so sánh mình với người mục tử tốt lành
gọi các chiên mình bằng tên chúng. Theo truyền thống Thánh kinh, “tên
gọi để chỉ cái tôi đích thật”. Để biết Đấng Phục Sinh, cần thiết
phải biết “Cái Tôi Đích Thật” của mình bằng cách để cho Ngài
gọi đích danh mình, điều đó tỏ lộ cho mỗi người thấy chính con người
của mình.
Chúa Giêsu nói với bà đừng cầm giữ
Ngài lại vì Ngài chưa về với Chúa Cha. Sự hiện diện có tính cách trần
thế của Chúa Giêsu không còn tồn tại nữa. Giai đoạn cuối cùng của
cuộc sống Ngài là hội nhập vào nguồn gốc của Ngài. Sự Thăng Thiên
được diễn ra bốn mươi ngày sau cuộc Phục Sinh - cũng là một con số
tượng trưng - nhưng Chúa Giêsu đã hứa ở lại với môn đệ Ngài mọi ngày
cho đến tận thế. Ngày nay, Kitô hữu quan niệm Chúa Giêsu như vừa “ở
đây” và vừa “ở bên kia thế giới”.
Chúa Giêsu nói với bà Maria Macđala
là Ngài sẽ về với Cha của Ngài và cũng là Cha của bà, về với Thiên
Chúa của Ngài và cũng là Thiên Chúa của bà. Người ta có thể liên
tưởng tới điều Ngài đã nói với các môn đệ ít lâu trước khi tử nạn là
họ không phải đầy tớ mà là bạn hữu bởi vì Ngài đã chia sẻ với họ tất
cả những gì Ngài đã học được từ Cha Ngài.
Vì vậy các Kitô hữu tin tưởng rằng,
do sự kết hợp với nhân tính rạng rỡ và đã được biến đổi của Chúa
Giêsu, họ cũng được thông phần vào tương quan duy nhất cùng Chúa Cha,
tức “thông phần vào chính bản thể Thiên Chúa”.
Một sự thay đổi có tính cách “bản
thể học” đã xảy ra trong nhân tính Chúa Giêsu, tiếp theo sau sự
giáng sinh, cuộc sống trần thế, sự tử nạn, phục sinh và thăng thiên
của Ngài. Tuy nhiên sự thay đổi đó cũng được thể hiện trong mỗi một
cá nhân qua mỗi giai đoạn cuộc sống, bằng cách sáp nhập kinh nghiệm
của Chúa Giêsu vào trong con người chúng ta.
Về phương diện giáo lý và triết học
của việc đối thoại liên tôn, sự quan trọng của Phục Sinh hệ trọng ở
chỗ biểu lộ “duy nhất tính của Chúa Giêsu”. Duy nhất tính
không có nghĩa là loại trừ. Duy nhất tính của Chúa Giêsu không loại
trừ những mặc khải khác về Chân Lý, nhưng niềm tin Kitô giáo nhận
thấy ở Chúa Giêsu sự “mạc khải trọn vẹn” của Thiên Chúa dưới
hình dáng một con người.
Duy nhất tính đó cũng biểu lộ bản
chất đích thật của nhân loại, sự mạc khải trọn vẹn cho chính họ trong
bản chất thần thiêng và sự sung mãn của khả năng họ để sống, để ý
thức và kết hợp với Thiên Chúa.
“Sự Phục Sinh” cũng còn quan
trọng ở chỗ cho thấy sự kinh hãi lớn lao của con người - sự kinh hãi
về cái chết - chỉ là ảo giác. “Sự chết” không phải là chấm dứt
cuộc sống, nhưng là giai đoạn cuối cùng để đi vào sự sung mãn của
cuộc sống nhằm chia sẻ bản tính Thiên Chúa.
Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma
“Đoạn Phúc Âm này rất thích hợp cho
buổi kết thúc khóa hội thảo. “Nhập Niết Bàn” (Parinirvana) của
Đức Phật được coi như hành động cuối cùng cao quí nhất đối với cuộc
sống Ngài và đoạn Phúc Âm trích dẫn này xem ra cũng mang một ý nghĩa
tương tự.
Đối với ai tin tưởng vào sự “tái
sinh”, khi nói đến sự chết thì cũng nói tới sự tái sinh. Sự tái
sinh chỉ có thể xảy tới nếu cái chết đã đến trước đó. Hôm nay, lại
một lần nữa, chúng ta có một cuộc thảo luận nho nhỏ về đề tài này.
Hầu hết các tôn giáo lớn xem ra tương
đồng ở chỗ cuộc sống các vị sáng lập đã chứng minh tầm mức quan trọng
là họ mang trên mình kinh nghiệm “khổ đau” và nhận chân giá
trị của sự đau khổ.
Trong một cuộc thảo luận của tôi hôm
nay với cha Laurence, cha đã nhắc nhở tôi là cha Bede Griffiths
có nói tới sự phân biệt giữa “thân xác thể lý với thân xác tinh tế và
thân xác thần linh của Chúa Giêsu”. Trước khi chết, thân xác Chúa
Giêsu có tính cách “thể lý”; khi Ngài sống lại và chưa lên
trời để về với Chúa Cha, thân xác đó có đặc tính “tinh tế” và
sau khi thăng thiên, thể xác đó mang tính chất “thần linh”.
Trong Phật giáo, người ta đã bàn luận
nhiều về những loại thân thể khác nhau, như “thân thể tinh tế,
thân thể tinh thần và thân thể linh thiêng”. Tuy nhiên có một sự
khác biệt lớn lao giữ thể xác tinh tế của Chúa Giêsu và thể xác tinh
tế mà những văn bản Phật giáo đã mô tả.
Phật giáo mô tả những trình độ càng
lâu càng tinh tế do sự phóng xuất liên hệ đến những giai đoạn tiến
hoá tâm linh của bản thể, từ tình trạng tầm thường cho đến sự giác
ngộ viên mãn. Trong trường hợp Chúa Giêsu, chúng ta nhận thấy Ngài là
một nhân vật duy nhất - Con Thiên Chúa. Cho nên tiến trình biến đổi
qua nhiều giai đoạn không được áp dụng.”
MỤC
LỤC
|