|
ĐỐI THOẠI LIÊN TÔN
VÀ
TƯƠNG QUAN
GIỮA PHẬT TỬ CÙNG KITÔ HỮU
Vào tháng chín năm 1994 ở Luân Đôn,
Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma đã hướng dẫn cuộc Hội Thảo John Main: đó là cuộc
gặp gỡ hằng năm nhằm mục đích khai triển đời sống nội tâm để tưởng
nhớ linh mục Biển Đức John Main mà cha Bede Griffiths đã có lần nói
về ngài là vị linh hướng quan trọng nhất trong Giáo Hội ngày nay.
Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma và Dom John Main
đã gặp nhau hai lần. Lần đầu tiên vào năm 1980 tại nhà thờ Chính Tòa
Công giáo ở Montréal, tỉnh bang Québec, Canada. Tại đó, người ta đã
xin cha John Main đón tiếp vị thủ lãnh Tây Tạng với tư cách là người
tu sĩ anh em, trong buổi tối khai mạc cuộc gặp gỡ liên tôn.
Trong những cuộc hội họp chuẩn bị cho
buổi chiều hôm đó, tôi nhớ lại cha John Main đã mạnh mẽ biện hộ là
phải đưa vào chương trình một khoảng thời gian quan trọng cho việc
chiêm niệm trong thinh lặng. Những vị lãnh đạo tôn giáo có mặt vào
buổi chiều tối cầu nguyện liên tôn đó, từ Đức Tổng Giám Mục cho đến
pháp sư người thổ dân châu Mỹ, đã phát biểu những tâm tình chứng tỏ
tình thân hữu và đọc lên những lời kinh tuyệt vời.
Nhà thờ Chính Tòa tối hôm đó tràn
ngập lời ca, lời xướng kinh cùng với những mỹ thuật rực rỡ của văn
hoá Kitô giáo. Những người tổ chức đã lo lắng về đề nghị giữ 20 phút
thinh lặng trong một buỗi lễ với tầm vóc rộng lớn như thế. Nhưng cha
John Main đã khẩn khoản yêu cầu và cuối cùng ngài đã được mọi người
đồng ý.
Sau buổi lễ, Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma đã
tìm gặp vị tu sĩ Biển Đức đón tiếp ngài để nói lên lời cảm kích biết
bao đối với sự kiện bất thường là ngài được thiền định trong một ngôi
thánh đường Công Giáo. Chứng kiến cuộc nói chuyện giữa họ, tôi nhận
ra một sự tương thân tương ái lớn lao nối kết hai vị.
Những lời trao đổi giữa họ chỉ có
tính cách bình thường, nhưng tôi có cảm giác họ đã thăm dò một cuộc
đối thoại thâm sâu hơn, có tính cách thinh lặng hơn. Kế đó cha John
Main đã mời Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma tới thăm viếng cộng đoàn bé nhỏ Biển
Đức vừa mới thành lập cạnh trung tâm thành phố Montréal, chuyên về
thực hành và quảng bá đường lối chiêm niệm theo truyền thống Kitô
giáo.
Vào thời điểm đó, chúng tôi ở ngoại ô
thành phố trong một ngôi nhà nhỏ, sống giữa một cộng đoàn mở rộng gồm nhiều giáo
dân quanh vùng. Đó là một lối sống đời tu ở chốn thị thành theo đường
hướng múc lấy nguồn sinh lực trong truyền thống tâm linh Kitô giáo.
Tôi phân vân không biết Đức
Đạt-Lai-Lạt-Ma sẽ nghĩ gì? Chắc hẳn ngài sẽ hình dung đến những đại
tu viện thời Trung Cổ. Khi thư ký của ngài đã nói chen vào là tiếc
thay thời khóa biểu của ngài đã dày đặc nên không cho phép ngài nhận
lời mời được, tôi chẳng ngạc nhiên chút nào.
Nhưng rồi Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma xoay về
phía người thư ký và nói với một giọng cương quyết - tuy vẫn ngọt
ngào - là ngài quyết định nhận lời mời và phải dàn xếp để đưa cuộc
thăm viếng đó vào thời khóa biểu của ngài. Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma đã nhấn
mạnh như thế và ngài đã thành công. Cha John Main và Đức
Đạt-Lai-Lạt-Ma đã nhìn nhau, mỉm cười và chia tay.
Chúa nhật kế tiếp, vài giờ sau khi
cảnh sát Canada khám xét toàn diện trung tâm, đoàn xe limuzin của Đức
Đạt-Lai-Lạt-Ma đã dừng lại trước tòa nhà của cộng đoàn tu trì. Ngài
đã cùng với chúng tôi ngồi chiêm niệm vào lúc ban trưa trong phòng
chiêm niệm bé nhỏ của chúng tôi. Tiếp theo, ngài đã ăn trưa với chúng
tôi. Cũng theo lệ thường, chúng tôi ăn trong thinh lặng. Sau bữa ăn,
chúng tôi có một cuộc nói chuyện ngắn ngủi, rồi cha John Main và Đức
Đạt-Lai-Lạt-Ma đã rút lui để trò chuyện riêng tư với nhau.Trước khi Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma ra đi,
chúng tôi biếu ngài một cuốn “Luật dòng Thánh Biển Đức” và ngài đã
tặng lại cha John Main dải lụa trắng theo truyền thống Tây Tạng để tỏ
lòng tôn kính. Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma ra về và cha John Main tiếp tục
công việc đặt nền móng xây dựng Cộng Đồng Chiêm Niệm Kitô Giáo. Và họ
chẳng bao giờ gặp lại nhau nữa
sau buổi chiều mùa thu năm 1980 đó.
Giữa lần gặp gỡ đó và lời mời vào năm
1993, nhiều việc đã xảy ra. Cha John Main đã qua đời năm 1982 vào lứa
tuổi năm mươi sáu, trong khi Cộng Đồng Chiêm Niệm Kitô giáo vừa mới
hình thành. Nhưng giáo huấn về chiêm niệm Kitô giáo của cha đã bắt
đầu lan rộng trong Giáo Hội. Trong những năm kế tiếp, các bài học
thiêng liêng này tiếp tục phát triển và chúng nuôi dưỡng cùng củng cố
đời sống nội tâm của một số lớn Kitô hữu. Hai mươi lăm trung tâm đã
mọc lên và hơn một ngàn nhóm nhỏ hàng tuần gặp gỡ nhau ngõ hầu hỗ trợ
việc thực hành chiêm niệm của mỗi cá nhân. Những nhóm đó ở rải rác
trên một trăm quốc gia.
Trung tâm quốc tế của Cộng Đồng Chiêm
Niệm Kitô Giáo Thế Giới đã được thành lập ở Hoa-Kỳ nhân cuộc hội thảo
vào năm 1991 ở New Harmony, Indiana, do cha Bede Griffiths hướng dẫn.
Cha Griffiths là một tu sĩ Biển Đức và là người đi tiên phong trong
vấn đề đối thoại liên tôn bắt đầu ở Luân Đôn. Những cuộc hội thảo
trước đó được điều khiển bởi nữ chuyên viên Phạn ngữ là cô
Isabelle Glover, triết gia Charles Taylor, nhà bình luận
văn chương Robert Kiely, nhà tâm lý học thuộc dòng Thánh Giuse
là nữ tu Eileen O'Hea, học giả John Todd, sáng lập viên
cộng đoàn “L’Arche” – chuyên trách những người khuyết tật là ông
Jean Vanier, và nhà thần học kiêm học giả dòng Tên là cha
William Johnston.
Đáp lại lời mời của chúng tôi, Đức
Đạt-Lai-Lạt-Ma đã ngỏ đôi lời vắn tắt là ngài còn nhớ cuộc gặp gỡ của
ngài với cha John Main mười ba năm trước và ngài sung sướng thấy cộng
đồng lớn mạnh khắp thế giới. Ngài cũng sung sướng và lấy làm hãnh
diện được hướng dẫn cuộc hội thảo sắp tới. Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi của
hai vị tu sĩ nhiều năm trước đây đã cung ứng cho chúng tôi một vận
hội tuyệt vời. Chúng tôi đã nắm bắt vận hội đó như thế nào?
Nhiều lý do đã khiến chúng tôi đề
nghị với Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma, người đầu tiên không phải Kitô hữu, điều
khiển cuộc hội thảo. Cuộc gặp gỡ của ngài với Dom John Main tuy vắn
vỏi nhưng cực kỳ quan trọng. Sự hội ngộ đó đã đưa ra ánh sáng sự cần
thiết của việc triển khai cuộc “đối thoại giữa Kitô hữu và Phật tử”
ở mức độ thâm sâu hơn, khả dĩ giúp mọi người có thể tiếp cận được nhờ
vào đường lối chiêm niệm. Có cái gì đó dễ đánh động lòng người khi
cùng nhau chia sẻ sự thinh lặng thâm sâu; điều gì đó mà ngôn từ có
thể trao đổi cho nhau nhưng chẳng bao giờ thành công để diễn đạt trọn
vẹn.
Sự lựa chọn của chúng tôi cũng hướng
đến Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma bởi vì ngài đã trở thành một trong những bậc
thầy tu đức hiện đại được yêu mến nhất và dễ dàng tiếp cận nhất. Cơn
hấp hối của xứ Tây Tạng, cái thường xuyên theo đuổi ngài, đã đưa đẩy
ngài vào vai trò lãnh đạo tâm linh có tính cách toàn cầu mà những giá
trị đạo đức phổ cập như “hòa bình, công lý, sự khoan dung và bất
bạo động” đã được thể hiện một cách hứng khởi và đồng thời cũng
nghiêm túc nơi con người của ngài. Điều đó được thấy rõ rệt khi ngài
đọc lớn tiếng “Các Mối Phước Hạnh” trong Phúc Âm trong buổi
thảo luận đầu tiên. Mọi người có cảm tưởng những điều đó mang một
chiều kích khác trên đôi môi ngài. Đó là chiều kích của một tầm nhìn
sắc bén mà ngài đã có kinh nghiệm bản thân.
Khi tìm cách để nắm bắt cơ hội này,
chúng tôi được câu trả lời rõ ràng: hãy buông trôi trong phó thác.
Thật vậy, chúng tôi ở trước một hoàn cảnh chưa từng xảy ra. Đó là một
cuộc hội thảo ba ngày của một nhóm qui tụ những người chiêm niệm Kitô
giáo với các bằng hữu tuy không là người Kitô nhưng đã dấn thân một
cách thâm sâu trong hành trình đó, đã cùng nhau tổ chức một “cuộc
thảo luận có tích cách liên tôn”.
Tôi đã lưu ý Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma là
cuộc hội thảo bao gồm những thời gian “chiêm niệm và thảo luận”.
Chúng tôi phải cùng nhau chiêm niệm ba lần mỗi ngày. Những giờ chiêm
niệm đó không phải là thời gian “đệm” trong cuộc hội thảo nhưng chính
là tâm điểm của cuộc gặp gỡ. Hiển nhiên ngài không phản đối đề nghị
này. Nhưng vấn đề không phải là chỉ ngồi yên lặng mà còn tìm một đề
tài để thảo luận nữa.
Chúng tôi đã duyệt xét những đề tài
triết lý và tôn giáo thường được đề cập tới trong những cuộc gặp gỡ
như thế giữa Phật tử và Kitô hữu, nhưng chúng tôi thiết nghĩ điều này
không thích hợp với một cuộc hội thảo có một không hai này. Cuối cùng
chúng tôi quyết định sẽ trao cho Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma những gì mà Kitô
hữu trân quý nhất, thánh thiện nhất và thâm sâu nhất. Vì vậy chúng
tôi đã xin ngài dẫn giải “Phúc Âm”. Ngài đã nhận lời không
chút do dự, chỉ lưu ý chúng tôi là tất nhiên ngài không biết nhiều về
những văn bản đó. Tôi nhận thấy trong điều lưu ý của ngài một dấu
hiệu đầy ấn tượng về lòng tự tin và đức khiêm tốn.
Hai ba năm trước đó ở Luân-Đôn, khi
thuyết trình nhiều bài về triết lý Phật giáo, ngài đã làm ngạc nhiên
cử tọa về tầm hiểu biết chính xác và sâu rộng của ngài. Giờ đây ngài
đã vui lòng chấp nhận phát biểu trước một cử tọa Kitô hữu - dĩ nhiên
cởi mở và trầm ngâm - để đề cập tới một lãnh vực mà ngài biết rất ít
- ít ra đó là điều mà ngài đã khẳng định với một nụ cười.
Được sự chấp thuận của Đức
Đạt-Lai-Lạt-Ma, những tham dự viên đã cương quyết dấn thân, nhưng kết
quả không biết trước được. Đây là một cuộc đánh cược với niềm tin của
cả hai tôn giáo. Chúng tôi không chút hoài nghi là thời gian chiêm
niệm cũng như sự hiện diện của ngài để trao đổi tự nó đã có giá trị
rồi. Những ai có thời gian tiếp cận với Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma, đều biết
rằng sự hiện diện của ngài tỏa ra “sự bình an, chiều sâu nội tâm
và sự an lạc”. Dù vậy, cũng chẳng có gì bảo đảm rằng cuộc hội
thảo này sẽ thành công về mặt đối thoại.
Cuộc hội thảo năm 1994 với chủ đề “ĐỨC
TỪ TÂM” (The Good Heart) đã mang lại một sự thành
công lớn lao mà chúng tôi không dự liệu trước. Những lời bình luận
của Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma đối với những đoạn Phúc Âm chủ yếu của cuốn sách này. Hiệu ứng của
những lời này sẽ kéo dài đến những cuộc đối thoại ở thiên niên kỷ tới
giữa các tôn giáo lớn của nhân
loại. Điều này đặt để nhân loại trước một sự thách đố mới là phải
kiến tạo một thế giới an bình và hòa hợp cho những thập niên kế tiếp:
ngài đã đề nghị một mô thức đối thoại.
Trong những nhận xét khởi đầu của
ngài, Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma đã nhắc lại tầm mức quan trọng của những
hình thức đối thoại hiện đang được áp dụng đối với các tôn giáo. Ngài
đã nhấn mạnh đến những cuộc “đối thoại giữa các học giả”.
Nhưng theo ngài, việc đối thoại cốt yếu và có tính cách thao tác nhất
không nằm trên bình diện trí thức. Chính là một cuộc “trao đổi
chân thật giữa những người thực hành đạo giáo một cách chân thành”
từ quan điểm của chính đạo giáo họ, đây là cuộc đối thoại nhằm chia
sẻ những sự thực hành liên hệ của chính họ.
Ý niệm đó tạo thành mẫu số chung cho
những tư tưởng gia Kitô giáo lẫn Phật giáo. Trong truyền thống đan
viện Kitô giáo lúc ban sơ, Các Thánh Giáo Phụ đã nhấn mạnh đến trọng
tâm của việc “thực hành” (praktike) tức là kiến thức xuất phát
từ kinh nghiệm chứ không phải từ sự hiểu biết có tính cách khái niệm.
Đức Hồng Y Newman đã cảnh cáo sự nguy hiểm sống niềm tin của mình
theo một đề cương giới hạn vào sự “đồng ý tự biện” mà quên đi sự “kiểm
chứng bằng kinh nghiệm cá nhân”.
Nếu cha John Main hết sức khuyến
khích Kitô hữu tìm lại chiều kích chiêm niệm của đức tin mình, chính
là để chúng ta phải “kiểm chứng những chân lý thuộc về đức tin chúng
ta bằng chính kinh nghiệm chúng ta”. Trong bối cảnh của cuộc thảo
luận này - một cuộc thảo luận dựa trên Phúc Âm - ý hướng đó mang lại
điều mới mẻ là áp dụng vào cuộc “đối thoại liên tôn”, chứ
không chỉ truy tầm có tính cách cá nhân về niềm tin đạo giáo của mình
Do đó, cuộc hội thảo nầy là cơ hội để
Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma khai tâm cho chúng ta nhận chân giá trị của sự
khác biệt. Ngay từ đầu, ngài đã cảnh cáo chúng ta là mục đích của
ngài không nhằm đóng góp vào việc xây dựng một tôn giáo đại đồng.
Ngài không tin là có thể tạo lập một tôn giáo đại đồng duy nhất, trái
lại ngài tin tưởng ở sự kính trọng, thúc đẩy chúng ta “tôn sùng
những đặc trưng của mỗi tôn giáo”.
Nếu có những Kitô hữu ủng hộ một quan
điểm có tính cách chính thống cực đoan thì nhiều Kitô hữu khác lại
hội nhập trào lưu tự do và chấp nhận ý niệm tôn kính những truyền
thống tôn giáo khác nhau, mặc dù với những lý do khác với Đức
Đạt-Lai-Lạt-Ma.
Rất nhiều lần, Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma đã
nhấn mạnh đến sự kiện ngài là một Phật tử. Mặc dù ngài nhận thấy
nhiều điểm tương đồng rất xác thực và nổi bật giữa những giáo huấn
của Chúa Kitô và Đức Phật Thích Ca, nhưng ngài cảm thấy sự nguy hiểm
của một số từ ngữ có thể gây ra ngộ nhận. Vì vậy ngài nhắc đến sự
quan trọng phải nhận chân tầm mức bao quát của “những điểm hội tụ
cũng như bất đồng” mà người ta phải truy tầm ý nghĩa trong khi
theo đuổi những ước vọng tâm linh.
Người ta có những nhu cầu tâm linh
khác nhau mà mỗi tôn giáo có thể cung ứng cho họ theo những điểm đặc
thù khác nhau. Điều xác quyết đó xem ra dễ dàng chấp nhận, hoàn toàn
có tính cách bao dung và tự do. Nhiều người xem đó là thái độ thích
ứng đối với đặc tính đa dạng có tính cách toàn cầu trong thiên niên
kỷ sắp tới.
Lược trình của cha Laurence
Freeman
MỤC
LỤC
|