LỜI NÓI ĐẦU

 Điểm nổi bật nơi Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma thứ mười bốn - ngài Tenzin Gyatso - đó là ngoài những giờ thiền định, hình như ngài không thể nào ngồi yên, lúc nào cũng động đậy. Phát biểu ở trong giảng đường Đại Học Middlesex ở Luân Đôn vào tháng chín năm 1994, trước một cử tọa khoảng ba trăm năm mươi Kitô hữu với một nhóm nhỏ Phật tử, thân mình và diện mạo ngài chính là biểu tượng cho học thuyết nhà Phật về sự sinh động trường tồn.

Không những ngài minh họa cho lời giảng thuyết bằng những cái phất tay, những nụ cười hàm tiếu, những cử động chân mày và những trận cười ròn rã, nhưng thường xuyên ngài hay gập lại hay giũ những đầu tay áo của chiếc tăng bào mầu đỏ thẫm, cầm tay những khách khứa ngồi trên bục cạnh ngài, ra hiệu cho bạn bè ngồi trong phòng hội hay lần giở những tờ chương trình trong khi người thông dịch của ngài tóm lược một đề tài khá dài.

Nếu không nói quá đáng thì buổi hội ngộ này là một cuộc gặp gỡ có tính cách lịch sử. Lần này, Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma đã đến London để tham dự “Cuộc Hội Thảo của John Main”, một cuộc hội thảo thường niên do “Cộng Đồng Chiêm Niệm Kitô Giáo Thế Giới” tổ chức. Cha John Main là tu sĩ Biển Đức người Ái-Nhĩ-Lan, người quảng bá đường lối chiêm niệm theo truyền thống John Cassian và các Cha tu rừng và cũng là người đã sáng lập những trung tâm chiêm niệm Kitô giáo trên toàn thế giới.

Mỗi năm từng trăm người thực hành đường lối chiêm niệm đó, xuất phát gần như hầu hết các lục địa - phần lớn gồm tín hữu Công giáo và Anh giáo, nhưng không loại trừ tín đồ các tôn giáo khác - cùng nhau hội họp và tham dự những cuộc thuyết trình về một số vấn đề như đạo đức học, đời sống tâm linh, Thánh Kinh, đối thoại tôn giáo và cầu nguyện.

Nhiều nhân vật tên tuổi điều khiển các buổi gặp gỡ đó mà trong những năm vừa qua gồm có: Charles Taylor, một triết gia người Gia-Nã-Đại; Bede Griffiths, tu sĩ Biển Đức người Anh và sáng lập viên một thiền viện ở Ấn-Độ; và John Vanier, sáng lập viên cơ sở “L’Arch”, một tập hợp những cộng đồng Kitô hữu chia sẻ đời sống với người khuyết tật.

Lần đầu tiên Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma được mời tới dẫn giải Phúc Âm ở giữa đại chúng, do sáng kiến của Dom Laurence Freeman – tu sĩ Biển Đức – tốt nghiệp đại học Oxford về văn chương và là tu sĩ tu viện Biển Đức Olive ở Cockfosters Luân Đôn. Cha Laurence Freeman là thuyết trình viên sống động và nổi bật nhất của Cộng Đồng kể từ khi cha John Main qua đời năm 1983.

Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma đã tiếp nhận trước tám đoạn Thánh kinh Kitô giáo trong đó có “Bài Giảng Trên Núi” (Matthêu đoạn 5), “Dụ Ngôn Hạt Cải về Nước Trời” (Máccô đoạn 4), “Sự Hiển Dung hay Biến Hình” (Luca đoạn 9) và “Sự Phục Sinh” (Gioan đoạn 20). Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma được hoàn toàn tự do dẫn giải.

Người ta chỉ lưu ý ngài là cử tọa gồm những Kitô hữu (Công giáo, Anh giáo và Tin Lành), phần đông thuộc cộng đồng nói tiếng Anh, xuất phát từ mọi lục địa và hầu hết - chỉ trừ vài ngoại lệ - hằng ngày thực hành đường lối chiêm niệm trong thinh lặng.

Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma không những là một giáo chủ mà còn là một quốc trưởng. Nhiều người khát khao được nghe ngài giảng, đã lo ngại Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma sẽ bị báo giới và các cộng sự viên vây quanh và ngài không thể trao đổi một cách hoàn toàn tự nhiên bằng trí óc cũng như con tim. Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma đã nhanh chóng đánh tan nỗi lo ngại đó và hơn thế nữa, với một sự thoải mái rất đáng kinh ngạc.

Mỗi buổi mai từ sáng sớm, trước khi dùng điểm tâm và tra tay vào chương trình trĩu nặng trong ngày, ngài đã cùng với chư tăng tiến vào phòng hội mờ ảo và, cùng với các Kitô hữu hiện diện, ngài đã ngồi xuống trong một trạng thái bất động tuyệt vời và thiền định trong vòng nửa tiếng. Trong thinh lặng, chỉ thỉnh thoảng bị ngắt quãng bởi một tiếng sột soạt hay một cơn ho, nỗi ưu tư đã nhường chỗ cho một mối liên hệ tín nhiệm lẫn nhau và tiếp nhận những gì sẽ được chia sẻ.

Sau cùng, ngài cúi đầu nhẵn bóng trên bản văn, theo dõi từng chữ bằng ngón tay và theo cung cách các giáo sĩ Do-Thái giáo, ngài đọc lớn tiếng: “Phúc cho ai hiền lành…Phúc cho những tâm hồn trong sạch…Phúc cho những người bị bách hại vì sự công chính…” Cử tọa rất đỗi cảm xúc, hầu như bị giao động bởi uy dũng của những giòng chữ tuy quen thuộc nhưng được nắn nót và hòa điệu theo cung giọng người Tây Tạng cùng với niềm xúc cảm của một Phật tử.

Ý thức về những sự tàn phá ghê gớm mà Trung Cộng đã gây ra cho nền văn hóa và dân tộc Tây Tạng cùng những nỗi tân khổ của chính bản thân Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma vừa tị nạn vừa bị lưu đày biệt xứ, người ta không thể không nhận ra những âm ba xé lòng của bài đọc đó.

Cho dẫu tình trạng chính trị trầm trọng đến đâu, ba ngày gặp gỡ đó đã trổi vượt xét trên bình diện lịch sử. Tất cả chúng tôi đã đến để nghe một bậc thầy tu đức và chúng tôi đã được sống một biến cố tâm linh sâu sắc, dĩ nhiên đi vào sử sách, nhưng với một tầm mức rộng lớn hơn. Khung cảnh bao trùm buổi gặp gỡ của cuộc hội thảo cũng khá uyển chuyển để có được một bầu khí đơn giản và thoải mái.

Những buổi hội thảo bắt đầu bằng thời gian chiêm niệm, kế đó Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma đọc một đoạn Thánh kinh bằng tiếng Anh và dẫn giải. Tiếp theo là cuộc thảo luận với các tham dự viên và buổi hội thảo chấm dứt bằng những bài tụng niệm. Sau bữa ăn trưa, một buổi hội thảo khác lại tiếp diễn cũng theo một lịch trình tương tự.

Sự mô tả đó không chú tâm đến trạng thái tinh thần và không khí thực sự của những cuộc thảo luận. Giữa những bài đọc và phần dẫn giải, Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma đã điềm tọa trước một bàn dài thấp thấp, ở giữa hai nhân vật khác.

Ngồi bên trái ngài, trong chiếc áo màu trắng dòng Biển Đức, cha Laurence Freeman khi thì ghi chép, khi thì gật đầu, mỉm cười hay liếc mắt thăm dò - bày tỏ một cách không ý thức những phản ứng của những người ngồi trong phòng hội.

Ngồi bên phải ngài là thầy Geshe Thupten Jinpa, một vị tăng trẻ mảnh khảnh người Tây Tạng, trong bộ áo nâu sồng, lo phần chuyển dịch. Trầm tĩnh, tập trung tinh thần, chăm chú và hoàn toàn thư thái, thầy dịch tiếng Tây Tạng ra tiếng Anh gần như cùng một lúc một cách lưu loát. Sự khéo xử và khiêm nhu của vị tăng trẻ nhằm phục vụ thầy mình mà không chút gì có tích cách nô bộc, đã trở nên cho mọi người mẫu mực bất biến về sự chú tâm gần như tuyệt hảo và một phẩm cách quên mình.

Do cách tổ chức đó và cũng có thể vì tư cách và đường lối diễn đạt của Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma, cuộc độc thoại trong thực tế đã biến thành đối thoại và thường khi đã trở thành một cuộc đàm thoại tay ba.

Cả Dom Laurence lẫn Jinpa không cắt đứt lời nói của ngài, nhưng họ đã được Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma xen vào một cách tự nhiên khi ngài cảm thấy hứng thú: ngài đưa mắt qua lại từ người nầy đến người kia, thăm dò một phản ứng, sửa chữa một câu nói, nhướng mắt lên dò xét hay làm thư giản không khí phòng hội bằng một nụ cười.

Giữa những cuộc hội thảo, khi hai tham dự viên được mời lên trên bục gỗ để đặt câu hỏi, cuộc nói chuyện với bố cục rất chặt chẽ đã bung ra thành những mảnh vụn, rời rạc nhưng liên đới, về tư tưởng, ngôn ngữ, giọng nói, tuổi tác, phái tính, tánh tình và tín ngưỡng tôn giáo; tuy nhiên cuộc trao đổi không bao giờ hỗn độn.

Với tư cách là một người biệt xứ và một bậc thầy Phật học, Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma đã quen với những thay đổi thất thường; ngài có thể làm dịu não trạng căng thẳng của người Tây phương trước những luồng tư tưởng rời rạc và xa lạ của người Tây phương. Cũng như tất cả những bậc đại minh sư khác, ngài cũng có biệt tài rút tỉa từ cuộc trao đổi một ý tưởng hay đẹp phảng phất bên trong mà không ai nhận ra.

Người ta bảo Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma là một con người đơn giản. Cho dù lời nói đó chỉ là một lời khen tặng, thật khó mà không thể phán đoán thái độ có tính cách hơi miệt thị của người Tây phương đối với những tôn giáo và nền văn hóa Đông phương, chỉ xem đó là những truyền thống lạ mắt nhưng sơ đẳng đứng trên bình diện triết học.

Chỉ khi nào Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma tỏ ra bộc trực, nồng nhiệt và thân tình, người ta mới có thể nói ngài là một con người “đơn giản”. Nhưng đối với những điều gì còn lại, đó là một con người tế nhị, sâu sắc, đa diện, có trí thông minh tuyệt vời và một sự hiểu biết ít người sánh kịp.

Trong cuộc đàm đạo tâm linh, ngài mang lại ba đặc tính nổi bật. Những đặc tính đó ngày nay rất hiếm hoi trong những buổi họp mặt các Kitô hữu cho đến đỗi cử tọa đã đón nhận với sự thỏa thích và tri ân: đó là sự dịu dàng, trong sáng và nụ cười tươi. Nếu có một chút gì đặc tính “dòng Biển Đức” nơi ngài, người ta cũng nhận ra đặc tính “dòng Phan-xi-cô” và một chút “dòng Tên” nữa.

Ngay từ đầu, ngài đã làm cho cử tọa cảm thấy thoải mái khi tuyên bố một cách trầm tĩnh và dịu dàng rằng ngài không có mảy may dụng ý nhằm “gieo rắc sự ngờ vực” trong tâm thức các Kitô hữu về đức tin của họ. Luôn luôn ngài khuyên bảo họ hãy đào sâu kiến thức và thấu triệt giá trị những truyền thống riêng tư, bằng cách nhấn mạnh rằng những cảm quan nhân sinh và những nền văn hóa quá khác biệt nhau đến đỗi khó có thể biện minh cho một “con đường duy nhất” đưa đến Chân Lý.

Vừa dịu dàng vừa kiên trì và cương quyết, ngài đã bác khước những gợi ý theo đó Phật giáo và Kitô giáo là những ngôn ngữ khác nhau đề cập đến những niềm tin chủ yếu giống nhau. Về phương diện đạo đức học và sự nhấn mạnh đến lòng mẫn cảm, tình huynh đệ và sự tha thứ, ngài công nhận có những điểm tương đồng giữa hai tôn giáo. Nhưng trong tầm mức mà theo đó Phật giáo không công nhận một Thượng Đế Sáng Tạo cũng như một Đấng Cứu Thế có Bản Vị thì tham vọng nối kết “Phật giáo và Kitô giáo” lại với nhau chỉ là việc muốn “ghép đầu bò trên thân con cừu”.

Trong những buổi hội thảo lâu dài mà ngài đã dùng nhiều giờ để đọc và dẫn giải những văn bản có tính cách khúc chiết về thần học cùng trả lời những câu hỏi tế nhị, Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma luôn giữ sự trong sáng của trí tuệ một cách đáng ngạc nhiên.

Có một lúc, ngài trình bày những thực hành chiêm niệm về Phật giáo Đại Thừa như là những kỹ luật nhằm duy trì sự tập trung giác thức, chứ không phải một ý thức bị “phân tán” hay “suy sụp” trong đờ đẫn.

Một trong những hình thức tỏ lòng kính trọng đối với cử tọa là ngài chú ý đến họ. Hiếm khi một nhân vật, cho dù là một chức sắc tôn giáo, khi nầy hay khi khác, không dùng tới những câu trả lời “có sẵn”. Chắc chắc Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma cũng không ra ngoài thông lệ đó, nhưng rõ ràng sự hiện diện của ngài trong mỗi khoảnh khắc đối với Phúc âm cũng như hội chúng, vừa bằng con tim và lý trí, là một sự chuyên cần về cường độ mà ít người có thể có được.

Khi được hỏi làm thế nào để các tín đồ mang những niềm tin khác nhau có thể thực hành chung mà không pha trộn bò với cừu, ngài đã khuyên bảo họ nên “học hỏi, chiêm niệm và đi hành hương”. Ngài cho biết đã đi tới Lộ Đức và tìm thấy ở đó một sự chiếu tỏa linh thánh cho đến đỗi ngài đã sụp xuống cầu nguyện với “hết mọi thánh nhân” để các Ngài có thể duy trì quyền năng chữa bệnh ở nơi đó.

Khi ngài nói những lời nầy, hội trường đã nín thở vì kinh ngạc thích thú trước cử chỉ tôn kính vừa có tính cách đơn thuần vừa tuyệt đối trung thành theo truyền thống Phật giáo mà từ đó ngài đã xuất phát.

Trong bài suy tư về sự “Hiển Dung” hay “Biến Hình”, ngài đã trình bày một cách khoa học quan niệm Phật giáo về những phép lạ và những biểu lộ linh thiêng. Không một chút giáo điều hoặc với lòng mộ đạo thuộc loại tình cảm, ngài đề cao một truyền thống xa xưa đã từ lâu biết thích ứng những chứng nghiệm vượt quá giới hạn thông thường của lý trí và luật tự nhiên theo một phương thức tâm lý và kỷ luật tự giác thuần lý cao độ.

Ngài đã khiêm tốn phủ nhận là ngài có những chứng nghiệm đó, nhưng ngài không thấy có lý do gì để bác khước tính cách xác thực của chúng. Những lời nầy khiến người nghe có cảm giác rằng bao nhiêu thế kỷ tranh cải giữa Kitô hữu về các phép lạ cũng như những giải thích khác nhau về chúng xem ra hoàn toàn điên rồ.

Khi ngài dẫn giải cuộc gặp gỡ giữa chị Maria Macđala và Chúa Giêsu trong câu chuyện Phục Sinh do Thánh Gioan kể lại đã khiến nhiều người ứa lệ. Khó mà nói chính xác tại sao.

Một số người có cảm tưởng như nghe những lời đó lần đầu tiên, dường như sự dịu dàng, sự huyền bí và vẻ đẹp của những chữ đó đã bị lãng quên vì quá quen thuộc, nay được phục hồi sức sống, chẳng khác nào một tặng phẩm được mang đến từ một sứ giả mà người ta không bao giờ trông đợi.

Khi phải đương đầu với sự nghịch lý có tính cách triết học hay tôn giáo hoặc điều gì khó diễn tả, người Tây phương trở nên nghiêm nghị. Các Phật tử hiển nhiên có nhiều cách phản ứng khác nhau và cách gây hào hứng cho buổi hội thảo đó là tiếng cười.

Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma thích trào lộng về các tăng sĩ, những con bò, về sự luân hồi và thị kiến, nhưng thường khi một cử chỉ, một sự phát biểu hay một sự ngừng nghỉ trong tiến trình thảo luận - bình thường không thoát khỏi sự gò bó - đã phát xuất nơi ngài những tràng cười dễ lây.

Vào cuối ngày hội thảo, khi mọi người bắt đầu cảm thấy thấm mệt vì biết bao xúc động cô đọng lại, vị thông ngôn tuyệt vời của ngài là Jinpa, một tăng sĩ trẻ tuổi đã giữ một vẻ trầm tĩnh xuất chúng suốt những ngày đó đã phá lên cười, rung động từ đầu đến chân không thể kềm chế được, khi thầy ra sức dịch một giai thoại mà Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma kể lại.

Để trả lời cho một tham dự viên nhận xét rằng nhiều người không thể chiêm niệm được vì không có thời giờ, Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma kể câu chuyện một tăng sĩ hứa hẹn với đệ tử là sẽ đem cậu đi “picnic” (tức đi du ngoạn ngoài trời), nhưng thầy không bao giờ có thời giờ rảnh rỗi để giữ trọn lời hứa.

Ngày kia, hai thầy trò thấy một đoàn người đi theo sau cỗ quan tài, vị tăng sĩ hỏi đệ tử: “Người đó đi đâu vậy?” Thông dịch viên và cử tọa phải chờ đợi những năm phút, sau đó Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma thứ mười bốn mới nói tiếp câu trả lời: đó là “đi picnic”.

Đối với nhiều Kitô hữu, một buổi hội thảo đại kết hay một Thánh Lễ không phải là một buổi “picnic”. Nhưng dĩ nhiên ngày lễ hội cũng thuộc về thực tế và những đặc trưng Kitô giáo cũng như những tôn giáo khác. Về phương diện đó, nghe Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma diễn giải Phúc Âm là một ngày lễ hội thật sự.

Mỗi người cảm thấy bị đánh động và ngạc nhiên thấy “người khách lạ” đã cảm động mình đến mức độ nào. Một kẻ bị lưu đày và không có chút quyền uy nào trên Kitô hữu ngoại trừ quyền uy được lãnh nhận từ Đức Thánh Linh, đã có thể bày tỏ cho mọi người thuộc mọi đạo giáo những sự phong phú của chính bàn tiệc của họ.

Phỏng theo Robert KIELY

thành viên dòng ba Biển Đức và chủ tịch Ban Giám Đốc

World Community for Christian Meditation

 

MỤC LỤC