|
PHẦN THẢO LUẬN (I)
Cha Laurence
“Thưa Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma,
Tôi xin chân thành cám ơn ngài về
điều huấn dụ của ngài sáng nay. Tôi nói như thế nhân danh tôi nhưng
cũng nhân danh mọi người hiện diện nơi đây vì tôi cảm thấy thật xúc
động, với tư cách Kitô hữu, khi nghe ngài đọc những lời lẽ của Chúa
Giêsu với một sự trong sáng và một sự lãnh hội ý nghĩa một cách thâm
sâu như thế.
Và giờ đây là lúc có cuộc hội thảo
nhóm lần đầu tiên, tôi xin phép giớí thiệu với ngài hai nhân vật sẽ
đặt câu hỏi là ông Robert Kiely và bà Isabelle Glover. Ông Robert
Kiely thuộc dòng ba Biển Đức của cộng đồng tu trì chúng tôi và là
giáo sư văn chương thuộc đại học Harvard và bà Isabelle Glover
cũng thuộc dòng ba Biển Đức của cộng đồng tu trì chúng tôi và là giáo
sư Phạn ngữ.
Mục đích cuộc hội thảo nầy là để cho
phép chúng tôi được lắng nghe một cách chăm chỉ hơn “Lời” đã
đánh động chúng tôi sáng nay. Điều đó không nhằm tìm kiếm những khác
biệt nhưng chỉ để suy tư, trong một tinh thần càng cởi mở và độ lượng,
vừa dựa trên những điểm tương đồng và dị biệt lý thú có thể có ở giữa
hai tôn giáo chúng ta.
Tôi xin mời ông Bob Kiely bắt đầu
bằng đôi lời mở đầu rồi sau đó chúng ta đi vào phần thảo luận.”
Ông Robert Kiely
“Thưa Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma,
Tôi xin phép được thêm đôi lời vào
những câu cám ơn của cha Laurence. Được biết cuộc đời ngài, lịch sử
dân tộc ngài như thế nào, tôi xúc động đặc biệt khi nghe ngài đọc
những “Mối Phúc Thật” và nhất là những câu sau đây: “Phúc thay ai
than khóc: họ sẽ được an ủi!” và “Phúc thay ai bị bách hại vì
sự công chính: Nước Trời là của họ!”
Theo niềm tin Kitô giáo, nếu Thánh
Kinh được đọc bởi một người có đức từ tâm sẽ trở nên sức sống cho mọi
người. Đối với tôi, cũng như đối với nhiều người ở đây, tôi thiết
tưởng những lời mà ngài đã đọc cũng có hiệu quả như vậy.
Một trong những câu hỏi mà tôi muốn
đề cập với ngài có liên quan đến ý niệm thuộc Do Thái giáo và Kitô
giáo về “Đấng Tuyệt Đối đi vào trong lịch sử, trong thời gian”.
Trong những đoạn sách mà ngài đã đọc
và trong mọi giáo huấn của Chúa Giêsu nói chung, Kitô hữu đã đặt để
chúng vào trong một bối cảnh bao gồm ít nhất ba tiến trình lịch sử.
Tiến trình thứ nhất là “lịch sử
đời sống Chúa Giêsu”. Không một Kitô hữu nào khi nhận lãnh giáo
huấn của Chúa Giêsu mà không nhớ lại Ngài đã sinh ra nghèo hèn, Ngài
là một người Do-Thái sống trong một nước bị chiếm đóng, quãng đời
giảng dạy công khai của Ngài thì rất ngắn ngủi, Ngài đã bị bắt, bị
đóng đinh như một tên tội phạm về công pháp và Ngài đã phục sinh.
Trong tiến trình thứ hai, chúng tôi “không
thể tách rời Phúc Âm ra khỏi lịch sử dân tộc Do-Thái” vì lịch sử
đó là một thành phần của Thánh Kinh. Đó là một lịch sử được đánh dấu
bởi đời sống nô lệ ở Ai-Cập, được giải phóng dưới sự dẫn dắt của
Mô-sê là người đã ban bố Luật Pháp mà chính ông đã nhận lãnh từ Thiên
Chúa và đã chấm dứt bằng cuộc tản mát trên khắp địa cầu.
Tiến trình lịch sử thứ ba luôn luôn
là “lịch sử đời sống chúng ta”.
Như vậy, những lời nói của Chúa Giêsu
mà chúng ta suy niệm những ngày nầy đây đã đến với chúng ta qua những
câu chuyện được diễn biến trong lịch sử - lịch sử cá nhân, lịch sử
quốc gia và lịch sử thần học - trong cuộc sống của chính Chúa
Giêsu.
Tôi xin phép được hỏi những suy tư
nào đã gợi lại nơi ngài - một vị cao tăng Phật giáo - khía cạnh “thời
gian tính đó ở nơi Kitô giáo” và nếu có thể được xin ngài cho
thấy những điểm tương đồng trong Phật giáo.”
Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma
(đề cập đến đời sống Đức Phật và Chúa
Giêsu)
“So sánh giữa hai truyền thống tâm
linh kỳ cựu như Phật giáo và Kitô giáo cho thấy một sự tương đồng nổi
bật giữa đời sống các vị giáo chủ sáng lập: đó là Đức Giêsu Kitô
trong Kitô giáo và Đức Phật Thích-Ca trong Phật giáo. Tôi nhận ra một
điểm chung rất quan trọng: chính “đời sống các vị giáo chủ sáng
lập” đã thể hiện điều cốt yếu ẩn tàng trong những giáo huấn các
Ngài.
Như thế, trong đời sống Đức Phật, “Tứ
Diệu Đế” biểu thị điều cốt yếu của giáo huấn Ngài: Diệu Đế về đau
khổ (Khổ Đế), Diệu Đế về nguồn gốc sự đau khổ (Tập Đế),
Diệu Đế về sự diệt khổ (Diệt Đế) và Diệu Đế về cách hành đạo
đưa đến diệt khổ (Đạo Đế). Tứ Diệu Đế đã mặc nhiên thể hiện
trong đời sống của vị giáo chủ sáng lập, tức chính Đức Phật Thích-Ca.
Tôi thiết tưởng đối với Đức Kitô cũng
vậy. Khi quan sát đời sống Chúa Giêsu, người ta nhận thấy đời sống đó
đã biểu trưng tất cả mọi việc hành đạo và những giáo huấn căn bản của
Kitô giáo.
Tôi cũng nhận ra một điểm tương đồng
khác nữa giữa hai đời sống đó là duy chỉ bằng những thử thách, sự
chấp nhận thử thách, sự cam kết cá nhân và sự gắn bó bền chặt vào
những nguyên tắc mà người ta có thể tiến tới trên hành trình tâm linh
và đạt tới sự giải thoát. Đối với tôi điều nầy xem ra đã tạo nên một
sứ điệp chung và là sứ điệp cốt lõi.”
Bà Isabelle Glover
“Thưa Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma,
Ngài đã nhắc tới sự “tái sinh”.
Có nhiều dấu hiệu cho phép nghĩ rằng, vào những thời gian đầu của
Giáo hội Kitô, luân hồi là một niềm tin được chấp nhận, nhưng ngày
nay không còn lưu hành trong tư duy Kitô giáo nữa. Ngài có thể dẫn
giải thêm về điều đó được không? Tầm mức quan trọng của giáo huấn về
“tái sinh và nghiệp quả” như thế nào?”
Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma
(bàn luận về luân hồi tái sinh)
“Tôi cũng đã được nghe nói là trong
những giáo huấn đầu tiên của Giáo hội Kitô, người ta đã có thể giải
thích một số đoạn Thánh Kinh một cách có thể minh chứng niềm tin ở sự
tái sinh không nhất thiết xung khắc với đức tin Kitô giáo. Do đó, tôi
đã tự do thảo luận vấn đề nầy với nhiều linh mục và với nhiều cấp
lãnh đạo Kitô giáo khác nhau - tuy nhiên tôi chưa có cơ hội đặt vấn
đề nầy với chính Đức Giáo Hoàng.
Tuy chưa vấn nạn ngài, nhưng tôi đã
hỏi han nhiều hành giả và nhiều linh mục Kitô giáo ở mọi nơi. Tất cả
đã đồng thanh nói với tôi là tín ngưỡng đó không được chấp nhận trong
giáo lý Kitô giáo mà không cho biết lý do đặc thù tại sao khái niệm
luân hồi không có chỗ đứng trong ngữ cảnh mở rộng của đức tin và
đường lối thực hành Kitô giáo.
Tuy nhiên, cách đây hai năm ở tại Úc
châu, khi tôi gặp gỡ cha Bede Griffiths lần sau cùng (tôi đã
gặp cha nhiều lần và đích thân tôi đã quen biết cha), tôi đã đặt câu
hỏi như thế với cha. Tôi ghi nhớ rõ ràng cuộc tiếp xúc đầy cảm động
đó. Cha khoác chiếc áo thiền sư Ấn-Độ màu vàng. Cha cho biết, theo
quan điểm Kitô giáo, niềm tin ở sự tái sinh làm xoi mòn đức tin và
sự hành đạo của Kitô hữu.
Khi bạn chấp nhận cuộc sống nầy -
cuộc sống cá nhân của bạn được trực tiếp tạo dựng bởi Đấng Tạo Hóa -
thì cuộc sống bạn là một tặng dữ trực tiếp của Ngài; điều đó tức thời
tạo nên một dây liên kết rất đặc biệt giữa bạn - một tạo vật cá biệt
- và Đấng Tạo Hóa. Tương quan cá nhân trực tiếp đó cho thấy một tình
cảm thân cận và mật thiết với Đấng Tạo Hóa của quí bạn.
Tin tưởng vào sự tái sinh sẽ làm lay
chuyển mối liên kết đặc biệt đó với Đấng Tạo Hóa. Tôi nhận thấy lối
giải thích nầy rất có sức thuyết phục.”
Cha Laurence
“Thưa Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma,
Tôi thấy có một liên hệ giữa hai câu
hỏi được nêu lên bởi ông Robert Kiely và bà Isabelle, về sự tương
quan giữa “thời gian và vĩnh cửu”, giữa “tương đối và tuyệt
đối”.
Đối với Kitô hữu, Thiên Chúa cũng có
danh xưng là “Chân Lý”. Thế mà, do kinh nghiệm, mọi người đều
biết chân lý là điều người ta khám phá từ từ. Chân lý là điều ló
rạng dần dần. Chân lý được mạc khải từng giai đoạn qua cuộc sống
một cá nhân, cuộc sống đó bao gồm một kiếp hay nhiều kiếp. Chúng ta
cũng biết rằng tôn giáo trải qua một cuộc tiến hóa theo giòng lịch sử.
Có một “cái nhân tuyệt đối”
trong những giáo huấn của Đức Phật và của Chúa Giêsu, nhưng chân lý
của những giáo huấn đó ló rạng dần dần qua lịch sử, bằng suy tư. Nếu
không, chúng ta đã không có một lý do nào để tổ chức một khóa hội
thảo như hôm nay đây. Chúng ta luôn có chân lý để khám phá và tái
khám phá.
Có thể nào ngài nói cho chúng tôi
biết ngài cảm nghĩ như thế nào về ý niệm chân lý như là một cái gì
hiện hữu bây giờ và ở đây một cách sung mãn nhưng đồng thời chúng ta
cũng chứng nghiệm chân lý từ từ, qua từng giai đoạn?”
Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma
(bàn luận về chân lý - vĩnh cửu và
thời gian - giáo pháp “tam thân”)
“Giáo lý Phật giáo cũng đề cập đến
vấn đề “chân lý chung cục” được biểu lộ qua từng giai đoạn và
ở trong diễn tiến lịch sử nhưng đồng thời cũng tuyệt đối hay chung
cục.
Có một đoạn trong “Kinh Bát Nhã
Ba-La-Mật” (Prajnaparamitasutra) là một phần của toàn bộ Kinh Trí
Độ Luận quảng diễn chuyên biệt ý niệm đó. Theo đoạn kinh đó, chư Phật
quá khứ hay vị lai được đến trong thế gian nầy hay không, và cho dù
có một vị Phật sống giữa thế giới hay không, chân lý rốt ráo của mọi
sự và mọi biến cố vẫn luôn luôn là một. Chân lý thì hiện tại đời
đời; chân lý luôn luôn ở đó.
Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa
là mọi sinh vật đều được dự phần vào chân lý đó - nói cách khác,
chúng sẽ đạt tới sự giải thoát - một cách tự nhiên hay không chút cố
gắng nào, bởi vì mọi cá nhân phải có kinh nghiệm về chân lý đó một
cách tuần tự.
Vì vậy chúng ta phải phân biệt giữa “sự
hiện hữu đích thực của chân lý” là một việc và “kinh nghiệm về
chân lý” đó là một việc khác. Chính ở đây mà người ta có thể tìm
ra “điểm giao thoa giữa sử tính và bản chất tuyệt đối của chân lý”.
Cha đã nêu lên một điểm lý thú. Làm
thế nào một nguyên lý tuyệt đối như Đấng Tạo Hóa thần linh lại có thể
tỏ lộ trong một khuôn mặt lịch sử như Đức Kitô? Bản chất đích thực
của sự tương quan đó như thế nào và những cơ chế nào có thể giải
thích “sự liên hệ giữa tuyệt đối là cái phi thời gian và một khuôn
mặt lịch sử là cái có thời gian tính”?
Trong bối cảnh Phật giáo, vấn nạn đó
được đề cập dưới góc độ của giáo lý “tam thân” (kayas) tức ba
hình thức biểu lộ của một đấng đã giác ngộ. Trong bối cảnh đó, những
biểu lộ vật chất và sử tính của những đấng giác ngộ được trông thấy,
theo một nghĩa nào đó, như là những sự xuất hiện bộc phát của trạng
thái chung cục và phi thời gian của “Pháp Thân” (dharmakaya),
tức “Chân Thân” hay “Thân Chân Lý” của một vị Phật.”
Ông Robert Kiely
“Thưa Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma,
Một phương cách khác tiếp cận vấn đề
đó nhất là dưới góc cạnh của việc thực hành và nghi thức phụng tự
hằng ngày, có lẽ sẽ nhắc nhở lại những danh xưng mà Kitô hữu đã gọi
Chúa Giêsu và những Phật tử đã gọi Đức Phật.
Một trong những điều nghịch lý hiển
nhiên của Kitô giáo ở chỗ chúng tôi gọi “Chúa Giêsu là Anh chúng
tôi và là Đấng Cứu Thế” của chúng tôi. Theo từ ngữ cá nhân, điều
đó muốn ám chỉ rằng chúng tôi được mời gọi yêu mến Chúa Giêsu như một
con người, như một người anh hay một người chồng. Đồng thời, chúng
tôi tin rằng ngài cũng là Đấng Cứu Thế mà chúng tôi tôn thờ như Thiên
Chúa. Những danh xưng đó nhắc nhở chúng tôi rằng Chúa Giêsu đã cho
chúng tôi năng lực yêu mến Ngài bằng hai cách đó, rằng Ngài tuôn đổ
thần tính của Ngài trên con tim chúng tôi.
Điều đó có tương ứng xa gần với những
cảm tình mà chư Phật tử cảm nhận đối với Đức Phật, và tương ứng với
những danh xưng mà chư Phật tử đã tặng cho Ngài?”
Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma
(bàn luận về Đức Phật lịch sử - hóa
thân Phật)
“Vì có nhiều môn phái Phật giáo,
chúng ta không nên cho rằng chỉ có một môn phái đồng nhất, một đường
hướng rõ rệt, nếu muốn nói như thế.
Riêng cá nhân tôi, tôi thích gắn bó
với một “Đức Phật như là một nhân vật lịch sử” - một đấng đã
đưa thân phận làm người đến sự tuyệt hảo và đã trở thành một “Đấng
Giác Ngộ viên mãn”.
Tuy nhiên, theo nhiều trường phái
Phật giáo, Đức Phật không những là một khuôn mặt lịch sử, mà còn tham
dự vào một “chiều kích phi thời gian và vô biên” nữa. Trong
bối cảnh đó, cho dù Đức Phật là một khuôn mặt lịch sử, sử tính của
Đức Phật Thích-Ca-Mâu-Ni được xem như là một sự biểu lộ khéo léo của
hành động từ bi của Đức Phật được thể hiện từ trạng thái “phi thời
gian và viên mãn” của “Pháp Thân” (dharmakaya) hay “Chân Thân”,
tức “Thân của Chân Lý”.
Đức Phật Thích-Ca-Mâu-Ni, với tư cách
một khuôn mặt lịch sử, là “hóa thân" (nirmanakaya) tức Thân
biểu lộ ra ngoài: một sự biểu lộ thích ứng với một không gian, một
thời gian và trong một bối cảnh riêng biệt. Sự biểu lộ đó phát xuất
từ một trạng thái thuộc một chân tánh gọi là “Báo Thân” (sambhogakaya),
tức trạng thái an lạc viên mãn và trạng thái nầy lại xuất phát từ
phạm trù phi thời gian của “Pháp Thân” (dharmakaya).
Tuy nhiên, nếu chúng ta thảo luận hết
mọi tính cách đặc thù đó, chúng ta chỉ thêm nhức đầu và lẫn lộn mà
thôi!
Phương cách đơn giản nhất để xem Đức
Phật Thích-Ca-Mâu-Ni dưới góc cạnh lịch sử là như sau: Đối với những
Phật tử, nhất là những người dấn thân trong đời sống tu trì, “Đức
Phật là Đấng đã sáng lập truyền thống tu viện”. Ngài là khởi điểm
của hệ phái tu sĩ Phật giáo. Những tăng ni được tấn phong trọn vẹn
trong hệ phái đó phải kiên trì trong việc chấp nhận hoàn toàn những
lời khấn (phát nguyện) khi được tấn phong.
Muốn trở thành một “tì-khưu” (bhiksu),
tức một vị tăng được tấn phong trọn vẹn hay một “tì-khưu ni” (bhiksuni),
tức một ni cô được tấn phong trọn vẹn, phải là một con người. Vì vậy,
nếu người ta liên hệ với Đức Phật trong tư cách một tăng sĩ được tấn
phong trọn vẹn, điều đó ám chỉ rằng người ta liên hệ tới một Đấng với
tư cách là một nhân vật lịch sử.”
Bà Isabelle Glover
“Thưa Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma,
Ngài thường nhắc đến cụm từ “quán
chiếu thực tánh của...” Đa số chúng tôi không có cái nhìn hệ
thống để “quán chiếu thực tánh của” một sự việc. Thí dụ như
làm sao chúng ta có thể quán chiếu thực tánh của sự bất nhẫn, thiếu
lòng từ bi?”
Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma
(đề cập đến tiến trình xét nghiệm và
phân tích)
“Để cho tiện việc học hỏi, cách thông
thường mà triết học Phật giáo tìm hiểu một đề tài là phân loại và
phân chia hiện tượng
này vào những chủng loại và
phạm trù. Chẳng hạn các hiện tượng tinh thần có thể được xếp loại vào
những phạm trù khác nhau như: thuộc về khái niệm và không thuộc về
khái niệm, đã biến thái và không biến thái, vân vân... Và kết quả
là quý bạn tìm thấy trong các kinh văn Phật giáo nhiều danh sách của
các thuộc tính tinh thần tùy theo chức năng của chúng.
Lấy một thí dụ khác, khi bạn quán
chiếu thực tánh của lòng trắc ẩn (bi) chẳng hạn, trước tiên bạn phải
cố gắng cho nó một “định nghĩa”, cố gắng tìm hiểu xem lòng
trắc ẩn (bi) nghiã là gì.
Sau đó bạn mới đặt những câu hỏi cụ
thể để làm cho việc phân loại rõ ràng hơn: Đâu là những chiều kích
ảnh hưởng của lòng trắc ẩn đối với tất cả những kinh nghiệm có thể có
được trong trạng thái nhân sinh, trong các hiện tượng của đời sống
con người? Đâu là nguyên nhân và điều kiện phát sinh (“duyên khởi”)
của cái xúc cảm đó? Khi cảm nhận được lòng trắc ẩn (bi) thì bạn sẽ
phát sinh ra những thứ cảm xúc nào? Lòng trắc ẩn (bi) có những ảnh
hưởng gì trên người khác? Và cứ như thế. Qua những phân tích như vậy,
bạn mới bắt đầu biết được lòng trắc ẩn (bi) giống như cái gì.
Khi bạn đào sâu kinh sách Phật giáo,
bạn cũng tìm thấy những nghị luận về các chủng loại khác nhau của
lòng trắc ẩn (bi). Chẳng hạn như đối với một thứ trắc ẩn thì không
chỉ có sự đồng cảm với đối tượng của lòng từ bi, nhưng còn đưa đến
tinh thần trách nhiệm muốn cất đi sự đau khổ cho đối tượng đó. Loại
trắc ẩn (bi) này thì có uy lực hơn chỉ là đồng cảm.
Các mức độ trắc ẩn (bi) tùy thuộc vào
trạng thái thông suốt tinh thần của bạn. Thí dụ như, theo cái nhìn
của Phật giáo, nếu bạn hiểu được sâu sắc thâm diệu tính chất vô
thường của cuộc sống, thì lòng từ bi của bạn sẽ mạnh mẽ hơn vì sự
hiểu biết này. Cũng vậy, nếu lòng “ái kỷ” hay “vị kỷ” (sự
dính bén với cái tôi) của bạn suy giảm rõ rệt thì dĩ nhiên lòng trắc
ẩn cũng sẽ tăng vọt.
Để có thể phân biệt được như thế, bạn
cần một trình độ nhận thức để thấy được những
sự
tinh tế khác nhau.
Còn nữa, khi bạn suy xét một hiện tượng như lòng trắc ẩn (bi), đừng
vội cho rằng chỉ có một loại trắc ẩn. Cũng như trong một điều kiện
tinh thần thì có nhiều khía cạnh khác nhau.
Thí dụ như lòng trắc ẩn (bi) là một
trạng thái của xúc cảm, nó chia sẻ bản chất của ý thức. Nó không phải
là đối tượng thể lý, mà là một trạng thái của cảm tính. Vậy nó thuộc
về bản chất của kinh nghiệm, và như thế nó cũng chia sẻ cùng một bản
chất với tất cả mọi cảm xúc khác.
Lấy một thí dụ khác, chúng ta hãy tìm
hiểu “căn tính” của một cá nhân. Khi bắt đầu lượng định về căn
tính, bạn sẽ cảm nhận được sự phức tạp của con người
ấy. Một khía cạnh của căn tính là bản sắc văn hoá, có thể thuộc về Âu
châu hay Mỹ quốc. Dưạ
trên phái tính, một người
được
xác định là nam hay nữ. Căn tính của một người
cũng tùy thuộc vào nguyên quán hoặc tôn giáo. Thế thì bạn thấy đó, có
nhiều sự phân biệt ngay cả trong căn tính của một con người. Đây là
cách bạn “quán chiếu thực tánh” của bất cứ sự vật nào.”
Cha Laurence
“Thưa Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma,
Việc thực hành trong Phật giáo xem ra
đòi hỏi một sự phân tích lý giải tối đa và ngài đã nói tặng vật lớn
nhất của con người khi sinh ra là “trí tuệ”. Tuy nhiên người
ta có thể từ bi mà không cần trí thông minh. Ngài có thể giúp chúng
tôi lãnh hội điều đó được không? Có cần phải rất thông minh và có một
khối óc rất thành thạo, uyên bác và chính xác để đạt tới giác ngộ
không?”
Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma
(đề cập đến thông minh và giác ngộ -
đức tin)
“Hiển nhiên không phải như vậy. Cũng
như trong bất cứ mọi việc, đường lối cực đoan bao giờ cũng là một
điều sai lầm.
Những kinh sách Phật giáo phân biệt
ba hạng người tùy theo khả năng cá nhân đối với đường lối tu
đức, bằng cách chứng minh những hạng người nào sẽ rút tỉa lợi ích tối
đa đối với việc thực hành tu đức thâm sâu.
Quí bạn miễn chấp cho tôi vì không
trích dẫn đúng câu kinh, nhưng nội dung câu đó như sau: Thông thường,
những cá nhân thích ứng nhất để thực hành tu đức là những kẻ không
những chỉ có năng khiếu trên bình diện trí thức, mà cũng phải
có một đức tin và một sự chú tâm tập trung trên một
tiêu điểm duy nhất và phải có sự minh triết. Những người đó là
những kẻ thụ cảm nhất đối với việc thực hành tu đức.
Trong hạng thứ hai, người ta tìm thấy
những người không nhất thiết phải thông minh trỗi vượt nhưng phải có
một điểm tựa không lay chuyển trên đức tin.
Khốn nạn nhất là những kẻ thuộc hạng
thứ ba. Mặc dù họ có thể rất thông minh, họ luôn bị gặm nhắm
bởi sự hoài nghi và ngờ vực. Họ rất tài tình, nhưng có
khuynh hướng tỏ ra do dự, nghi ngờ và không bao giờ có thể
thực sự kiên trì đối với bất cứ một sự việc nào. Những người đó được
xem như là những kẻ kém thụ cảm nhất.
Khi chúng ta đề cập tới trình độ trí
thức, chúng ta xem xét một hiện tượng tương đối. Một người có thể
khôn ngoan hơn khi so sánh với một số người, nhưng lại kém thông minh
khi so sánh với một số người khác.
Nói chung, điều được xác nhận trong
việc thực hành tâm linh là mọi đức tin hay niềm xác tín căn cứ
trên một sự hiểu biết xuất phát từ một sự suy lý thì rất vững
chãi. Một niềm tin như thế thì vững chãi vì quí bạn đã xác quyết về
hiệu năng hay hiệu lực của ý niệm mà trên đó quí bạn đặt để niềm tin.
Và niềm xác tín đó, dĩ nhiên, là một động cơ mạnh mẽ thúc đẩy hành
động.
Do đó, Phật giáo quả quyết trí thông
minh rất quan trọng trong tiến trình tu đức. Trong truyền thống đó,
trí thông minh phối hợp với con tim vì con tim nặng về xúc cảm.
Như thế đức tin và tâm từ bi - mà bản chất của chúng thuộc trạng thái
cảm xúc nhiều hơn - cần được hỗ trợ bởi một niềm xác tín mạnh mẽ là
kết quả của suy tư và tìm tòi nghiên cứu thì mới không thể mai một
được.
Còn đức tin hay tâm từ bi mà không
đặt căn bản trên một lý luận vững chắc, mà đặt trên cảm xúc và theo
bản năng nhiều hơn, thì sẽ dễ dàng trở nên cảm xúc và có tính cách
bản năng nhiều hơn nên không vững chắc được. Đức tin đó có nguy cơ dễ
bị lay chuyển khi đối diện với những nghịch cảnh hay hoàn cảnh bất
trắc. Theo một ngạn ngữ Tây-Tạng: “Một người mà đức tin không đâm
rễ sâu trong sự suy lý thì cũng giống như một dòng thác mà người ta
có thể điều hướng bất cứ nơi đâu.”
Ông Robert Kiely
“Thưa Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma,
Tiếp theo câu hỏi liên quan đến khía
cạnh “cảm xúc và lý trí”, ngài có thể soi sáng cho chúng tôi
về vai trò của “nghi lễ” trong tôn giáo được không?
Trong nhiều thế kỷ, nghi lễ đã là đối
tượng của những bất đồng ý kiến trầm trọng giữa các Kitô hữu. Có
người đồng ý cho rằng nghi lễ, hát xướng, xông hương, đèn đuốc, áo lễ
sặc sỡ và sự tôn trọng một số tục lệ nào đó tạo nên một hiệu ứng tích
cực trong cách thức thờ phượng Thiên Chúa của chúng tôi. Nhưng cũng
có người cho rằng những điều đó lại làm cản trở việc thờ phượng đích
thực.
Ngài có thể nói cho chúng tôi biết
vai trò của nghi lễ trong truyền thống của ngài không?”
Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma
(bàn luận về nghi lễ)
“Khi suy tư về vai trò và tầm mức
quan trọng của nghi lễ trong cách thực hành đạo giáo, thiết
tương rất quan trọng nên xem xét người ta bị ảnh hưởng bởi môi
trường như thế nào. Do đó, điều được xác nhận là nhiều việc thực
hành nghi lễ hay lễ nhạc giúp chúng ta tạo nên một bầu không khí đặc
biệt thuận lợi cho trạng thái tâm linh mà chúng ta muốn đạt tới và,
trong ý nghĩa đó, nghi lễ đóng một vai trò quan trọng.
Lấy thí dụ một người cầu mong thực
hiện một điều gì, một người khác cương quyết muốn khấn hứa thực hiện
một điều khác thì nghi lễ sẽ tác động họ rất nhiều và sẽ có một hiệu
quả rất lớn trên hành động của họ. Cũng thế, khi quí bạn sử dụng
những nghi thức và nghi lễ để tạo ra khung cảnh linh thiêng mà quí
bạn tìm kiếm, lúc bấy giờ phương cách đó sẽ có một hiệu quả lớn lao
trên cuộc sống bạn.
Nếu thiếu sót chiều kích nội tâm về
kinh nghiệm tâm linh mà quí bạn khát khao, nghi lễ lúc bấy giờ chỉ
thuần là những cử chỉ đứng ngồi, những sự chế biến bên ngoài mà thôi.
Trong trường hợp đó, rõ ràng nghi lễ mất hết ý nghĩa và trở nên những
thói quen vô bổ - xin lỗi chỉ để cho thời giờ qua đi mà thôi.
Thiền sư nổi tiếng Tây-Tạng là
Milarepa thường hay chỉ trích những nghi lễ và lễ nhạc. Những văn
phẩm của ông chứa đựng rất nhiều lời bình luận châm biếm về những
khía cạnh khác nhau liên quan đến “nghi lễ và lễ nhạc”!
Cha Laurence
“Thưa Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma,
Tôi xin có một câu hỏi, nảy sinh do
cuộc hội thảo hôm nay liên quan đến nghi lễ như là một sự biểu lộ đức
tin bằng thể lý, như là một phương tiện biểu lộ đức tin qua thân xác
và giác quan.
Trong quá khứ, Kitô giáo Tây phương
rất là nhị nguyên. Người ta chấp nhận rằng thể xác và tinh thần đối
kháng nhau, rằng thể xác phải được chế ngự và tùng phục bởi tinh thần.
Ngày nay, người ta chứng kiến một sự khởi đầu của cuộc trở về với
tình cảm Kitô hữu nguyên thủy liên quan đến sự gắn bó mật thiết giữa
“thể xác và tinh thần”. Trong cuộc sống, chúng ta không thể
tách rời xác, hồn và lý trí; chúng đương nhiên phải sống mật thiết
với nhau.
Có thể nào ngài giúp chúng tôi hiểu
biết tương quan giữa thể xác và tinh thần theo quan điểm Phật giáo.
Nếu tôi không lầm, hình như xưa kia Phật giáo chấp nhận một sự đối
kháng giữa thể xác và tinh thần còn sâu đậm hơn trong Kitô giáo nữa.”
Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma
(bàn luận về thể xác và linh hồn)
“Cha nói có lý. Trong vài đoạn kinh
sách Phật giáo, người ta tìm được những lời tuyên bố của Đức Phật cho
thấy cảm tưởng một quan niệm nhị nguyên giữa thể xác và tinh thần.
Trong một kinh (sutra) Đức Phật quả quyết rằng “ngũ uẩn” (skandhas)
giống như một gánh nặng và con người giống như kẻ mang gánh nặng
đó. Vậy Đức Phật đã có miêu tả quan hệ nhị nguyên giữa con người và
những thành phần tâm vật lý tạo nên con người. Nhưng kết cục điều đó
không phải là quan điểm Phật giáo.
Theo như sự diễn giải truyền thống,
đoạn đó được viết ra cho những người, đứng về phương diện triết học,
bị thử thách bởi niềm tin vào một cái “ngã” (atman), tức là
một linh hồn vĩnh cửu và thường hằng. Nhưng quan điểm của Đức Phật về
bản chất sự tương quan giữa thể xác và tinh thần đối chiếu với căn
tính con người là giáo lý “vô ngã” (anatman). Nguyên lý đó quả
quyết rằng, ngoại trừ “ngũ uẩn” (skandhas), tức là những tập hợp tâm
vật lý mà bản thể con người được tạo nên, không có linh hồn như là
một thực thể riêng biệt, tự chủ và vĩnh cửu thường hằng. Giáo thuyết
đó thì chung cho mọi môn phái Phật giáo.
Mặc dù giáo huấn đó là tổng quát như
vậy, nhưng Phật giáo đã trải qua những trào lưu triết lý phân rẽ về
quan điểm muốn hiểu biết đúng ra cái gì tạo nên bản chất cái tôi hay
là con người. Có nhiều môn phái Phật giáo đồng nhất hóa con người chỉ
thu gọn vào một uẩn mà thôi, đó là “cái thức”; nhiều môn phái
khác thì đồng nhất hóa con ngoài vào toàn bộ “năm uẩn” v.v…Có
những môn phái tư tưởng chấp nhận một lập trường có tính cách duy
danh hơn, khẳng định con người hay cái tôi chỉ là một “danh xưng
thuần túy” mà thôi.”
MỤC
LỤC
|