|
PHẦN
THẢO LUẬN (IV)
Đức
Đạt-Lai-Lạt-Ma
“Chúa
Giêsu không trải qua một loạt biến đổi của những giai đoạn tâm linh,
phải không?”
Cha Laurence
“Không, sự Phục Sinh không phải là
luân hồi tái sinh”.
Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma
“Chúng ta không đề cập ở đây sự luân
hồi tái sinh. Chúng ta bàn đến trường hợp một hành giả riêng biệt.
Khi người đó đạt tới những cố gắng tâm linh thì ngay thân thể vật lý
của người đó càng lâu càng trở nên tinh tế.”
Cha Laurence
“Trước khi lìa đời, Chúa Giêsu đã
hiện diện với các môn đệ và ở giữa trần thế một cách nào đó và sau
khi chết, Ngài hiện diện trên trần thế một cách khác hẵn. Chúng ta
nhận thấy trong sự hiện diện có tính cách lịch sử của Ngài ở giữa
trần thế - như trong trường hợp Ngài gặp gỡ bà Maria ở đây chẳng hạn
- thì sự hiện diện đó cần phải được nhận thức một cách đặc biệt.
Nói cách khác, hành giả phải có một
mô hình nhận thức đặc biệt thì mới nhận ra sự hiện diện mới mẻ
của Chúa Giêsu. Phúc Âm cho chúng ta thấy một giai đoạn trung gian ở
giữa cái chết và sự Phục Sinh cùng sự Thăng Thiên của Ngài. Và cách
thức mà Chúa Giêsu đang hiện diện ngày nay trong trần thế lại còn
khác hơn với cung cách mô tả ở đây. Chúng ta có thể nói được ngày nay
Ngài hiện diện qua Đức Thánh Linh.”
Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma
“Ngay trong Phật giáo lại một lần nữa,
có nhiều quan điểm khác nhau về sự hiểu biết đối với việc “Nhập
Niết-bàn của Đức Phật”. Một trường phái tư tưởng - trường phái “vaibhasika”
thời cổ điển Ấn-Độ - quả quyết việc Nhập Niết-Bàn của Đức Phật chính
là sự “chấm dứt cuộc sống của Ngài ở trần thế”. Cũng như khi
Ngài vào đời là một sự kiện lịch sử thì sự Ngài biến mất khỏi trần
thế cũng là một sự kiện lịch sử. Cuộc sống của Đức Phật có một khởi
điểm và một chung cục.
Sự nhập Niết-Bàn được xem như giai
đoạn cuối của một ngọn lửa. Khi người ta tắt ngọn lửa thì ngọn lửa
chấm dứt: đó là sự hư vô hoàn toàn. Ngay cả sự tiếp nối của thần
thức Đức Phật cũng chấm dứt. Những đệ tử môn phái vaibhasika tuyên bố
“cái thức”, cho dù không có khởi đầu, nhưng có một chung cục.
Cái thức có thể hết hiện hữu.
Trong trường hợp nầy, vấn đề đặt ra
là xem ý nghĩa như thế nào đối với những đệ tử của Đức Phật tôn kính
Ngài, thờ phượng Ngài và khẩn cầu Ngài. Ích lợi như thế nào? Câu trả
lời của môn phái đó là sự “giác ngộ viên mãn của Đức Phật” là
kết quả của một sự tích lũy những công đức và một sự minh trí đến tột
đỉnh hoàn thiện trải qua vô lượng kiếp trong vũ trụ.
Trong suốt thời gian đó, Đức Phật đã
phát huy và vun bồi một tâm ý vị tha cực mạnh để phục vụ cho sự lợi
tha của hết thảy mọi chúng sinh. Công năng của nghị lực và chân lý đó
đang còn hiện diện ở giữa chúng ta. Chính “công năng đó”
đã đến giúp đỡ chúng ta khi chúng ta tôn thờ Đức Phật. Tuy nhiên,
nhân vật lịch sử của Đức Phật thì đã chấm dứt rồi.
Nhưng đó không phải là quan điểm của
nhiều truyền thống Phật giáo khác, trong đó có “Phật giáo Tây Tạng”.
Theo môn phái nầy, Phật tính hay sự giác ngộ viên mãn được nhìn trong
viễn tượng của “giáo thuyết tam thân” (kayas). Đức Phật Thích-Ca
Mâu-Ni là một nhân vật lịch sử - Ngài đã sống trong một không gian và
thời gian rõ rệt, trong một bối cảnh và môi trường rõ rệt - và việc
Ngài Nhập Niết-Bàn ở Kushinagar là một biến cố lịch sử.
Nhưng “cái thức của Đức Phật”
là một giòng chảy luôn luôn tiếp tục hiện hữu. Đức Phật, trong tư
cách phân thân dưới hình dạng con người thì đã chấm dứt sự hiện hữu
thể lý khi Nhập Niết Bàn, nhưng Ngài luôn luôn hiện diện dưới hình
thức “Báo Thân” (sambhogakaya), tức trạng thái sung mãn tròn
đầy. Và Ngài còn tiếp tục phân thân và xuất hiện dưới những hình dạng
khác nhau để được thích nghi hơn và lợi tha hơn cho các chúng sinh.
Đứng trên quan điểm đó, nếu Đức Phật
Thích-Ca Mâu-Ni với tư cách là một khuôn mặt lịch sử thì không còn
hiện hữu nữa, nhưng sự hiện diện của Đức Phật thì trường tồn. Theo
truyền thống đó, “giác thức” không có khởi đầu cũng như không
có chung cục, xét về mặt liên tục.
Đối với một hành giả Phật tử, sự Nhập
Niết-Bàn của Đức Phật mang một ý nghĩa tượng trưng bởi vì những ngôn
từ cuối cùng của Đức Phật hướng về “giáo thuyết vô thường” và
tính cách chuyển biến của mọi sự vật. Ngài đã tuyên bố là hết mọi sự
vật và biến cố đều mang tính cách chuyển tiếp, vô thường và không tồn
tại.
Ngài cũng tuyên bố rằng thân xác của
một nhân vật hoàn toàn giác ngộ - Đức Phật hay Phật Như Lai (Tathagata)
- cũng vô thường và chịu sự chi phối bởi những định luật đó. Và sau
khi công bố những lời đó, Ngài đã tắt thở. Đối với một hành giả Phật
tử, sự Nhập Niết-Bàn của Đức Phật - hành động lịch sử mà theo đó Ngài
đã tắt thở - nhấn mạnh đến tầm mức quan trọng của sự thực hành về
giáo thuyết vô thường.
Tôi hơi tò mò về câu nói trong Phúc
Âm, theo đó Chúa Giêsu công bố: “Thầy chưa lên với Cha Thầy”.
Tôi tò mò muốn biết sự “Thăng Thiên” được cắt nghĩa như thế
nào trong bối cảnh thần học Kitô giáo.”
Cha Laurence
“Ở trong một đoạn trước của Phúc Âm
Thánh Gioan, Chúa Giêsu đã nói: “Thầy biết Thầy đến từ đâu và Thầy
biết Thầy đi về đâu”. Ngài đã mô tả cuộc đời và sứ vụ Ngài như là
một cuộc trở về nguồn. Ở đâu đâu Ngài đều nói: “Thầy đã từ Cha mà
đến”. Sự Thăng Thiên của Ngài là sự hội nhập nhân tính của Ngài
đã được triển khai trọn vẹn vào nguồn gốc của Ngài ở nơi Thiên Chúa
Cha. Theo một ý nghĩa nào đó, sự Thăng Thiên là việc “hội nhập
hoàn toàn của Thiên tính và nhân tính của Chúa Giêsu.”
Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma
“Theo Phật giáo, một tương quan đặc
thù nối kết sự phóng xuất cùng lực phóng xuất và sự phóng xuất chấm
dứt khi định mệnh đã hoàn tất. Người ta tìm thấy ý niệm “sự phóng
xuất được hội nhập vào nguồn gốc của nó”, mặc dù trong vài trường
hợp, sự phóng xuất tự ý biến mất.
Do đó, trong trường hợp Đức Phật
Thích-Ca Mâu-Ni, xét về phương diện lịch sử, sau khi nhập Niết-bàn,
thân xác vật lý của Ngài rõ ràng còn hiện diện; thân xác đó đã được
hỏa táng và tất cả mọi người có thể trông thấy.
Một Phật tử thực hành sẽ nói là “giác
thức của Đức Phật” - chính cái thần thức siêu việt của Đức Phật -
đã hội nhập hay đã được thu hút vào trạng thái “Pháp Thân” (Dharmakaya).
Nhiều văn bản còn qui chiếu vào một loại hiện tượng mà những vật thể
tâm linh được biến hóa một cách siêu đẳng, có thể tiếp cận với những
thế giới tinh tấn mà không phải cởi bỏ thân xác thể lý của họ.”
Cha Laurence
“Đó là những nhận xét tuyệt vời để
hiểu biết thêm về sự Phục Sinh theo ý nghĩa Kitô giáo. Thật đáng
khích lệ! Thiết tưởng sự hiểu biết của Kitô hữu về sự Phục Sinh cũng
mang một “tầm vóc vũ trụ”. Chúa Giêsu là Thiên Chúa nhập thể
dưới hình dạng con người và sự Sáng Thế hay vũ trụ đã được phát sinh
qua Ngôi Lời của Thiên Chúa.
Vì vậy khi hình dáng con người của
Chúa Giêsu chết, Ngài đã trải qua một sự biến đổi tiên báo những gì
sẻ xảy ra cho toàn thể vũ trụ. Hình dáng thể lý con người của Chúa
Giêsu được hội nhập - với trọn vẹn năng lực và dáng dấp vật lý - vào
Thiên Chúa là nguồn gốc vũ trụ. Điều đó cuối cùng cũng xảy đến cho
toàn thể vũ trụ.
Hết thảy những gì ở trong vũ trụ đều
đến từ Thiên Chúa - một sự phóng xuất từ Thiên Chúa và sẽ trở về với
Thiên Chúa. Vì vậy thiết tưởng chúng ta nhìn thấy trong sự Phục Sinh
một sự biến đổi vật chất để trở về với nguyên ủy của nó. Điều đã xảy
tới cho thân xác Chúa Giêsu trong dạng thức con người - thân xác, tâm
thần và linh hồn - cũng là một sự tiên kiến về những gì sẽ xảy ra cho
vũ trụ vào ngày giờ của nó, tức khi thế mạt.
Thưa ngài, vì chúng ta sắp kết thúc
cuộc hội thảo, thiết tưởng tất cả đều đồng ý nói lên rằng chúng ta sẽ
phải trải qua hai cuộc đời - hoặc nhiều hơn! - để tiêu hóa quà tặng
tuyệt vời mà Ngài đã trao ban cho chúng tôi. Tôi xin phép đạo đạt lên
Ngài vài câu hỏi do cử tọa nêu ra, xuất phát từ những cuộc hội thảo
nhóm hay từ cá nhân.
Ngay từ đầu cuộc hội thảo nầy, tôi
cũng đã nghĩ tới nhân dân và đất nước Tây Tạng mà Ngài đại diện và đã
cam kết với Ngài sự hỗ trợ vô điều kiện đối với công cuộc đấu tranh
cho công lý và hòa bình.
Một trong những câu hỏi được đặt ra
liên quan đến không gian linh thánh và đất thánh, tiếp theo sau những
lời bình luận của Ngài liên quan đến việc hành hương. Ngài đã nhắc
tới lợi ích mà Ngài đã rút tỉa từ những cuộc thăm viếng những nơi
linh thánh. Câu hỏi mà tôi muốn đặt ra cho Ngài là: theo Ngài,
điều gì đã làm cho một nơi trở thành linh thánh?”
Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma
“Theo tôi, khởi đầu, một nơi chốn trở
thành linh thánh do “quyền năng của hành giả tâm linh” sinh
sống ở nơi đó. Quyền năng do những sự thực hiện tâm linh của một cá
nhân đã “tích tụ năng lượng” cho nơi chốn đó một cách nào đó;
đến lượt nơi chốn đó “tích tụ năng lượng” cho những cá nhân thăm
viếng nơi đó.
Rồi thì, những nơi linh thánh đó đóng
một vai trò quan trọng khác, nhất là những người liên kết với cuộc
sống những vị giáo chủ sáng lập những tôn giáo lớn. Khi thăm viếng
những nơi đó, tín hữu của bất cứ tôn giáo nào đều có cơ hội suy tư
chín chắn về mẫu gương các vị giáo chủ tốt lành đó và, như thế họ
được khích lệ cũng như được tác động, nên có cơ may theo gương các
ngài.”
Cha Laurence
“Theo Ngài, sẽ có ích lợi cho những
tín đồ các tôn giáo khác nhau cùng “đi hành hương chung” với
nhau không?”
Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma
“Vâng, đó chính là một dự án mà tôi
đang triển khai. Tôi chắc rằng sự thực hành đó sẽ mang lại những lợi
ích vô cùng to lớn.”
Cha Laurence
“Một câu hỏi khác có lẽ liên hệ đến
những Kitô hữu và Phật tử thuộc những truyền thống khác - không phải
Tây Tạng - khi họ bắt đầu nhạy cảm với những nhu cầu của đất nước Tây
Tạng mà sự lạnh nhạt của Tây phương thật là một gương xấu. Làm thế
nào, bằng một phương tiện tâm linh hay bất cứ phương tiện nào khác,
Ngài có thể gợi ý để những Kitô hữu cũng như Phật tử và những tín đồ
các tôn giáo khác có thể hỗ trợ Ngài và nhân dân Tây Tạng?”
Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma
“Câu hỏi nầy liên quan đến “sự tự
do của đất nước Tây Tạng”. Điều nầy đã nối kết một cách mật thiết
với sự tự do nói chung và trong thực tế, cũng chính là sự sống còn
của nền “linh đạo thuộc đất nước Tây Tạng” nói riêng. Vì vậy,
điều đó chắc chắn sẽ có ảnh hưởng tốt đẹp đối với thế giới nói chung.
Nền linh đạo xa xưa của xứ Tây Tạng
là một sự thành bại đáng kể. Nếu linh đạo đó sống còn sau bao thử
thách thì không những người dân Tây Tạng được hưởng lợi ích mà còn
đóng góp lớn lao cho sự an sinh của dân tộc Trung Hoa nữa. Trong ý
nghĩa đó, thiết tưởng những hành giả và những tổ chức các tôn giáo
khác - tất cả những ai mà linh đạo có một giá trị và ý nghĩa - phải
đóng một vai trò đặc biệt bằng cách hỗ trợ cho lý do chính đáng của
chúng tôi.”
Cha Laurence
“Đối với một số lớn chúng tôi ở đây,
việc Ngài hành thiền mỗi ngày trực tiếp khuyến khích chúng tôi theo
gương Ngài để tiến tới trên con đường “bi trí dũng” và đồng thời giúp
chúng tôi phục vụ một cách quảng đại quốc gia Tây Tạng. Tất cả chúng
tôi sẽ được khích lệ và phong phú hơn lên nếu Ngài có thể ban tặng
cho chúng tôi những lời khuyến khích và chỉ bảo về phương thức kiên
trì trong con đường chiêm niệm hằng ngày.
Nhiều người sinh sống ở thành thị
phải đương đầu với những khó khăn của cuộc sống hiện tại và trải qua
những khó khăn lớn lao khi ngồi thiền hay chiêm niệm. Chính vì thế,
Cộng Đồng Chiêm Niệm Kitô Giáo đã được thành lập để giúp đỡ họ. Nhưng
thường rất khó khăn để chiêm niệm, đối với những người không sống
trong tu viện - và đôi khi cũng khó khăn đối với cả những người sống
trong tu viện nữa!
Xin Ngài ban bố cho chúng tôi đôi lời
khuyến khích và đưa ra một cái nhìn sáng suốt về điều chúng tôi phải
triển khai để kiên trì đào sâu việc “chiêm niệm mỗi ngày” của
chúng tôi.”
Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma
“Nếu một người được tác động bởi sự
hứng thú thật sự về phát triển tâm linh thì người đó không thể bỏ qua
việc chiêm niệm được. Đó là chìa khóa! Chỉ tụng niệm hoặc khấn vái mà
thôi sẽ không phát sinh sự biến đổi đời sống nội tâm được. Phương
pháp duy nhất để tiến tới trên hành trình tâm linh là “phải
cố gắng liên tục” trong con đường chiêm niệm!
Dĩ nhiên lúc ban đầu, không dễ dàng
đâu. Người ta sẽ cảm thấy nhiều khó khăn hay giảm bớt lòng hăng say.
Hoặc có thể ngược lại, một sự hăng say thái quá và sau đó vài tuần lễ
hay vài tháng sẽ bắt đầu xuống dốc. Phải triển khai một bước tiến đều
đặn, kiên trì, căn cứ trên một sự cam kết có tính cách dài hạn.”
Cha Laurence
“Có những phương pháp nào để
giúp chúng ta kiên trì khi bị nản chí?”
Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma
“Phải luôn luôn suy nghĩ và cân nhắc
mặt phải mặt trái của việc chiêm niệm hay không chiêm niệm. Một mặt
phải đo lường “lợi ích, giá trị và hiệu năng” của sự chiêm
niệm và mặt khác những “hậu quả tiêu cực” của việc bỏ chiêm
niệm. Khi mãi mãi cân nhắc hai khía cạnh đó, người ta sẽ củng cố sự
hăng say chiêm niệm.
Quả địa cầu chúng ta có hơn năm tỷ
người. Đại khái chia làm ba hạng người. Một hạng gồm những người
“có niềm tin và thực hành đời sống nội tâm”. Một hạng khác gồm
những người không những “không có niềm tin mà còn chống đối”
tôn giáo nữa. Và sau cùng là hạng người tuy “không thực hành đạo
giáo, nhưng không có sự chống đối” đặc biệt nào đối với tôn giáo.
Họ ở trong một trạng thái dửng dưng.
Tuy nhiên ba hạng người đó đều giống
nhau: tất cả đều được tác động bởi bản năng và lòng ước muốn tự nhiên
được “sống hạnh phúc” và vượt thắng sự đau khổ.
Khi so sánh, tín hữu hay người thực
hành đạo giáo không thuộc hạng người thứ ba - hạng người tuy không
thực hành nhưng cũng không chống đối. Họ cũng không được liệt kê vào
hạng người thứ hai, tức những kẻ chống đối tôn giáo - những người
chẳng những không tin tưởng mà còn nghĩ ngợi tôn giáo là vô ích và
dối trá. Vậy các bạn thử so sánh đời sống các người tín hữu thực hành
đạo giáo - các người ở hạng thứ nhất - với hai hạng người kia và các
bạn sẽ thấy cuộc sống nào minh chứng sự hài hòa tuyệt hảo và hạnh
phúc tối đa.
Xét về vài khía cạnh, đứng trên bất
cứ bình diện nào, những ai làm hết mọi cách để đạt tới cùng đích, dĩ
nhiên sẽ cho người khác cảm tưởng là họ thành công lớn lao nhất.
Nhưng về lâu về dài, người ta phải xét đoán sự thành công của một
cuộc sống bằng chính phẩm chất của cuộc sống đó được biểu lộ qua sự “an
bình nội tâm” của chính họ. Một cuộc sống thiếu chiều kích nội
tâm thông thường vắng bóng sự an bình nội tại.
Hãy xem những vị lãnh đạo các nước
Cộng Sản như Trung Quốc chẳng hạn. Hiển nhiên, những vị lãnh đạo đó
cũng muốn đạt được hạnh phúc như chúng ta! Nhưng họ đã thực thi một
phương thức khiến họ tin tưởng tôn giáo là một thứ độc dược.
Hạng người thứ nhất đề cập trên đây
cũng muốn truy tầm hạnh phúc nhưng bằng phương thức tôn giáo. Ở đây,
chúng ta gặp được những người “thực hành chân chính”, chứ
không phải những kẻ bằng lòng nói rằng mình tin và thực hành một tôn
giáo nhưng đạo giáo của họ không có chút ảnh hưởng quan trọng nào
trên cuộc sống họ.
Nếu chúng ta quan sát hạng người nầy,
chúng ta nhận thấy mà không chút nghi ngờ là đời sống của những hành
giả chân chính đó biểu lộ nhiều hạnh phúc hơn, nhiều an bình hơn. Và
ngay ở trong xã hội nói chung, tôi chắc chắn người ta sẽ dành nhiều
sự tôn trọng và tín nhiệm đối với những người đó.
Khi xem xét những sự kiện dưới một
góc độ nào đó, quí bạn sẽ thấy sự hội nhập tôn giáo và một hình thức
linh đạo nào đó vào trong cuộc sống các bạn thì hữu ích biết bao. Các
bạn tự so sánh mình với người khác để củng cố niềm xác tín của mình.
Thỉnh thoảng cũng nên đối chiếu những
kinh nghiệm của mình với những “kinh sách”. Nhờ đó, một cách
tuần tự và tiệm tiến, quí bạn sẽ nhận thấy giá trị sâu xa của linh
đạo. Niềm xác tín của các bạn càng lớn lao bao nhiêu, các bạn càng
cảm thấy sự hăng say và sức mạnh của các bạn càng rộng lớn bấy nhiêu
để tiến lên.
Điều đó phải xảy ra như thế. Nhưng
bất hạnh thay, trong thực tế, chúng ta nhận thấy điều ngược lại. Vì
nếu quí bạn có một điều ao ước cực mạnh để đạt được điều gì, tự nhiên
những sự cố gắng của các bạn cũng lớn lao như vậy.
Hãy lấy thí dụ những chính trị gia
cương quyết để được đắc cử trong một cuộc bỏ phiếu: người ta thường
có cảm tưởng họ dồn hết mọi nỗ lực để đạt tới mục đích. Họ đi vận
động tranh cử, dừng lại hầu hết mọi nơi. Trong chiến dịch tranh cử,
quí bạn trông họ già thấy rõ! Đó là cách mà họ đã tận dụng hết mọi
năng lực của họ.
Người ta cũng tìm thấy một sự cương
quyết như vậy ở nơi nhiều nhà kinh doanh mà mục đích duy nhất là kiếm
thật nhiều tiền, thu hoạch thật nhiều lợi nhuận. Họ ao ước một cách
hăng say cho đến nỗi họ hy sinh tất cả để đạt được mục tiêu.
Đối với hành giả tâm linh cũng vậy.
Nhưng xem ra không thấy có bao nhiêu hành giả hăng say cố gắng như
thế! Điều tôi muốn nói là quí bạn càng nhận thấy mục đích mà mình ao
ước một cách rõ rệt, quí bạn càng nỗ lực dấn thân để đạt cho kỳ được
và trên tiến trình như thế, động cơ của quí bạn sẽ thúc đẩy quí bạn
nhiều hơn.
Từ bước khởi đầu, tuyệt đối phải hiểu
rằng sự phát triển tâm linh không dễ dàng đâu: “phải có thời gian”.
Nếu lúc bắt đầu, người ta hy vọng một sự thay đổi quá nhanh từ gốc rễ,
đó là dấu hiệu chắc chắn một sự thất bại sẽ xảy tới! Đứng về mặt tinh
thần mà nói, phải chấp nhận rằng bất cứ sự tiến bộ nào cũng cần phải
có thời gian.”
Cha Laurence
“Có thể ngài cho chúng tôi biết thời
gian bao lâu?”
Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma
“Trong ngôn ngữ Phật giáo, người ta
nói tới “vô lượng kiếp”; điều đó có nghĩa là không thể tính
toán được! Và khi quí bạn nghĩ tới vô lượng kiếp thì những năm tháng
không nghĩa lý gì hết! Một cuộc sống vắn vỏi không là gì! Trăm năm
nào có gì đâu! Khi nghĩ tới vô lượng kiếp, điều đó quả thật giúp
chúng ta phát triển một sự quyết tâm mạnh mẽ! Nhưng đó không phải là
điều quan trọng ở đây. Điểm thiết yếu là làm thế nào trở nên hoàn
thiện ngay trong cuộc sống nầy!”
Cha Laurence
“Đối với chúng tôi là Kitô hữu, chúng
tôi tin tưởng Đức Thánh Linh đang tác động không những ở nơi các Kitô
hữu mà còn qua toàn thể nhân loại, nhất là ở nơi những người truy tầm
chân lý. Chắc hẵn nhiều người đồng ý với tôi là Đức Thánh Linh đang
tác động qua cung cách mà Ngài và nhiều anh em tu sĩ và tín hữu Tây
Tạng của Ngài đã và đang mang đến cho Tây phương sự minh triết của
dân tộc Tây Tạng và đã tạo ra những mẫu mực từ bi hỉ xả cho dù phải
trả bằng cái giá của sự khốn khổ và sự hy sinh cá nhân thật đáng kể.
Theo tôi, những cuộc thăm viếng của Ngài trong đất nước nầy cũng như
ở Tây phương là một quà tặng lớn lao cho người Kitô hữu chúng tôi.
Đối với những người Tây phương đã
đánh mất lòng nhiệt thành hăng say sống tâm đạo và sự quyết chí của
họ để tiến tới, Ngài đã cho họ hiểu biết tôn giáo dưới một góc độ mới
mẻ. Nếu có thể được, xin Ngài vui lòng giúp chúng tôi hiểu biết tại
sao thế giới hiện đại - trong khi chúng ta có nhiều trò giải trí,
nhiều thời giờ nhàn rỗi, sức khỏe tốt đẹp, những điều kiện sống thoải
mái và những tiện nghi vật chất nhiều hơn bao giờ hết - đã đánh mất ý
hướng của tôn giáo đích thực và sự thực hành tâm linh?”
Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma
“Có thể trong những tu viện hay đan
viện, người ta có nhiều thời giờ rảnh rỗi hơn, nhưng ở ngoài đời -
nhất là ở những đô thị lớn - cuộc sống là một sự chạy đua theo một
nhịp độ hấp tấp vội vã, như cái đồng hồ vậy, không bao giờ ngừng nghỉ
chút nào! Thực tế, chỉ cách đây vài ngày thôi, tôi đã nói với một
người thân cận của tôi là hãy xem xét kỹ cuộc sống nơi đô thị, người
ta có cảm tưởng cuộc sống cá nhân phải được định nghĩa một cách thật
chính xác, như một cái đinh ốc phải vặn cho vừa lỗ đinh.
Nói tắt một lời, người ta không có
một chút kiểm soát về chính cuộc sống của họ. Để sống còn, người ta
phải theo mẫu mực và nhịp độ đã được đặt ra cho chính họ.”
Cha Laurence
“Thưa ngài, ngài nghĩ sao về nhận xét
thường nghe nói: “Tôi muốn chiêm niệm, nhưng tôi không có thời giờ
chiêm niệm?”
Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma
“Về nhận xét đó, tôi xin kể cho quí
bạn nghe một câu chuyện. Xưa có hai tu sĩ mà một người là minh sư,
còn người kia là đệ tử. Ngày kia, để khích lệ đệ tử, minh sư bảo:
“Con cứ tin thầy đi, một ngày nào đó, chúng ta sẽ đi pic-nic (tức đi
du ngoạn ngoài trời).” Vài ngày qua, đệ tử không nghĩ tới nữa. Nhưng
về sau, khi đệ tử nhắc lại lời hứa đó với vị minh sư, ngài trả lời
quá bận nên chưa thể đi pic-nic được, phải chờ đợi một thời gian nữa.
Một thời gian khá lâu đã trôi qua và
cũng chưa bao giờ đi pic-nic cả. Đệ tử nhắc lại: “Chừng nào mình mới
đi pic-nic đây thầy?” Minh sư trả lời: “Bây giờ chưa được, thầy quá
bận rộn.” Nhưng một ngày kia, đệ tử thấy người ta khiêng một tử thi
đi chôn, minh sư liền hỏi: “Chuyện gì xảy ra vậy?” Đệ tử nhanh nhẩu
trả lời: “Dạ, người đáng thương đó đi pic-nic!”
Nội dung của câu chuyện nầy là trong
cuộc sống, chúng ta “phải dành một thời gian chuyên biệt” cho
mỗi một công việc ấp ủ trong lòng, nếu không, chúng ta sẽ có nhiều
công việc khác chi phối và sẽ luôn luôn bận rộn.”
Cha Laurence
“Thưa Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma,
Tôi xin phép được ngỏ đôi lời để kết
thúc cuộc hội thảo; kế đó, tôi sẽ xin Sơ Eileen O'Hea diễn tả theo
cung cách của Sơ lòng biết ơn của tất cả chúng tôi. Trước hết tôi
muốn cám ơn ngài, tự trong thâm tâm tôi. Tôi ý thức rằng từ vài ngày
qua, chúng tôi đang sống một thời điểm lịch sử. Thời điểm đó thể hiện
được nhờ vào sự can đảm và một tinh thần cởi mở tuyệt vời của ngài.
Ngài đã tỏ ra độ lượng ban phát cho chúng tôi nhiều thời giờ quí báu
trong thời khóa biểu của ngài. Và ngài còn độ lượng bằng cách thăm dò
những văn bản Thánh Kinh mà ngài chưa hề quen.
Điều đánh động tôi nhất khi nghe ngài
trình bày, chính là sự “minh triết” có tính cách trực giác và
tinh thần tìm kiếm “chân lý” của ngài, được đào luyện trong
truyền thống Phật giáo, cho phép ngài truy tầm một cách thâm sâu và
nắm bắt một cách sáng tỏ rất nhiều điều thuộc về chân lý tiềm ẩn
trong Thánh Kinh chúng tôi và ngài mạc khải cho chúng tôi dưới một
góc độ mới mẻ.
Tôi cũng nhận thấy sở dĩ điều đó có
thể xảy ra, bởi vì chúng tôi đã trao phó cho ngài những gì rất quý
giá và rất thánh thiêng. Sự tín thác của chúng tôi đã được đáp trả
gấp bội, bởi vì ngài đã triển khai những văn bản đó với một tấm lòng
cung kính và một ý hướng linh thánh cùng một sự kính trọng thâm sâu.
Cho phép chúng tôi được cảm tạ ngài về điều đó.
Cách thức mà ngài diễn giải những văn
bản Thánh Kinh cùng với cộng đoàn chúng tôi, xem ra đối với mỗi một
người trong chúng tôi như là một bài thực tập về “bất bạo động”.
Ngài đã có thể triển khai những văn bản đó một cách hời hợt (và ngài
làm điều đó một cách dễ dàng), nhưng trái lại ngài đã vận dụng tiềm
năng của sự minh triết, trí thông minh và sức mạnh tâm linh của ngài,
với một sự tế nhị khác thường. Đó là một bài học về bất bạo động mà
chúng tôi sẽ ghi nhớ mãi mãi.
Trong khi chúng ta đi vào những văn
bản khác nhau mà trưa nay được kết thúc với đoạn Phúc Âm nói về sự
Phục Sinh - một điều huyền nhiệm làm nền tảng cho đức tin chúng tôi -
tôi có cảm tưởng như ngài đã sử dụng một ngôn ngữ, một tư duy và
những hình ảnh đã nối kết những nền văn hóa của chúng ta lại với nhau
ở trong giới hạn của ngôn từ.
Trong khi cuộc hội thảo đi đến hồi
kết thúc, chúng tôi đang chuẩn bị một buổi liên hoan liên tôn giáo để
đi vào những hình thức biểu lộ khác nhau bằng ca nhạc và nhảy múa
cũng như tiếng hát ngõ hầu đưa dẫn chúng ta vào một chiều kích khác
của chân lý.
Như tôi đã trình bày, sự khéo léo của
ngài trong việc vận dụng tư duy và ngôn từ đã đưa dẫn chúng ta đến
một giới hạn. Tôi không tin rằng điều đó đã chấm dứt việc truy tầm
của chúng ta. Tôi hy vọng và khẩn xin ngài, bằng cách nầy hay cách
khác, vui lòng tiếp tục truy tầm tiếp theo sau cuộc cuộc hội thoại
nầy.
Tôi muốn bày tỏ lời cám ơn của tôi
không những với danh nghĩa Cộng Đồng Chiêm Niệm Kitô Giáo Thế Giới,
mà còn với Giáo Hội và cộng đồng tu trì Kitô giáo nữa. Tôi tin rằng
cuộc hội thảo nầy chứng tỏ những truyền thống tôn giáo khác nhau có
thể dấn thân vào việc “đối thoại thâm sâu” không chỉ giới hạn
trong việc duyệt xét những điểm tương đồng hiển nhiên mà còn đưa ra
những phương thức chung để truy tầm chân lý. Có thể chúng ta đi trên
những con đường song hành, nhưng tinh thần vẫn là một.
Với tư cách Kitô hữu, chúng tôi được
khích lệ vì thấu hiểu vai trò của chúng tôi như là những người “phục
dịch”. Chính Chúa Giêsu, qua Phúc Âm, đã cho thấy Ngài không phải
là một vị vua chúa hay bậc thầy nhưng là một người phục dịch. Ngài đã
nói: “Tôi đến giữa anh em để phục vụ anh em”.
Trong quá khứ, nhiều đệ tử Chúa Giêsu
đã quên điều đó. Nhiều Kitô hữu và chính Giáo Hội nữa đã nhiều lần
qua lịch sử tìm kiếm quyền bính thế trần, chính trị hay tôn giáo trên
kẻ khác, xuyên qua chủ nghĩa đế quốc và những hình thức độc tài khác.
Đứng trên bình diện con người, chúng
tôi nhận chân điều đó là tội lỗi. Nhưng ngài đã giúp đỡ chúng tôi
hiểu biết bản chất của sự khiêm tốn và vai trò Kitô hữu mà chúng tôi
có sẵn trong chúng tôi: đó là “môn đệ Chúa Giêsu và người phục
dịch”. Do đó chúng tôi đã và đang dấn thân theo đuổi công việc đó
để phục vụ cho sự hợp nhất các tôn giáo.
Giờ đây, tôi xin nhường lời lại cho
Sơ Eileen.”
Sơ Eileen
“Thưa Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma,
Tôi không biết phải thêm điều gì vào
những lời cha Laurence đã phát biểu. Nhưng với tư cách là phát ngôn
viên của nhóm hội thảo hiện diện nơi đây, tôi xin được phép nói lên
rằng chúng tôi không biết phải bày tỏ như thế nào cho trọn vẹn sự
biết ơn của chúng tôi. Ngài đã chia sẻ với chúng tôi sự minh triết
của nền văn hóa ngài cũng như truyền thống đạo giáo của ngài theo một
cung cách đã giúp chúng tôi nhận ra ở nơi ngài sự sáng suốt và sự
tinh tuyền của tuệ năng.
Khi nhận chân điều đó, chúng tôi cũng
nhận biết sự khao khát riêng tư của chúng tôi đang nỗ lực để đạt tới
chính những đức tính đó. Nhờ ngài, chúng tôi đã học hỏi rất nhiều,
không những bằng ngôn từ, mà còn bằng sự hiện diện của ngài cũng như
sự yêu thương chiếu tỏa từ ngài và xuyên qua lòng mẫn cảm của ngài
nữa. Đối với tôi - cũng như đối với nhiều người ở đây - cuộc hội ngộ
nầy đã biến đổi cuộc đời chúng tôi rất nhiều
Đành rằng Thánh Kinh Kitô giáo là Lời
Hằng Sống của Thiên Chúa. Tuy nhiên, có những ngày, hình như những
lời đó xem ra nhạt nhẽo, vì luôn luôn cũng chính những mẫu chuyện đó
mà chúng tôi đã biết hết rồi. Nhưng chỉ một tác động nho nhỏ của Đức
Thánh Linh đã hướng dẫn chúng tôi trong những giờ phút mờ tối đó. Nếu
chúng tôi kiên trì, những chữ đó sẽ lấy lại sức sống và mang nhiều ý
nghĩa càng lâu càng thâm thúy hơn.
Khi nghe ngài đọc Thánh Kinh của
chúng tôi, tôi nhận thấy rằng những ngôn từ của Chúa Giêsu mang một ý
nghĩa càng lâu càng thâm sâu hơn đối với tôi - và tôi tưởng điều đó
cũng xảy ra với tất cả những người hiện diện nơi đây. Tôi lấy làm
tiếc vì không được ngài chia sẻ những văn bản kinh sách của ngài cho
chúng tôi, như ngài đã làm đối với những văn bản Thánh Kinh của chúng
tôi vậy.
Tôi mong muốn được ngài thấu hiểu -
và nhiều người cũng đồng quan điểm với tôi - nỗi đớn đau của chúng
tôi khi đối diện với những sự tàn ác đang được thi hành trên quê
hương và dân tộc ngài. Riêng cá nhân tôi, với tư cách là công dân
Hoa-Kỳ, tôi cảm thấy hổ thẹn vì chính phủ chúng tôi đã không cương
quyết giúp đỡ dân tộc ngài. Tôi xin cam đoan với ngài là tôi sẽ không
im hơi lặng tiếng lâu dài nữa khi đối diện với thực tế nầy.
Một người trong chúng tôi đã ngỏ lời
là chúng tôi đã tham dự một bữa yến tiệc và chúng tôi đã được no nê
để sống. Tôi tưởng rằng tất cả chúng tôi sẽ sống thiện hảo hơn sau
khi tiếp xúc với ngài. Tôi không biết chúng ta còn có cơ hội gặp nhau
nữa không, hoặc giả tôi sẽ có đặc ân được gần gũi ngài như trong
những ngày nầy hay không.
Nhưng tôi chắc chắn rằng, chúng ta sẽ
gặp gỡ nhau qua sự “cầu nguyện và chiêm niệm” và chúng ta sẽ
hội tụ với nhau trong những giờ phút thiêng liêng đó. Về mặt thể lý,
chúng ta có thể chia lìa ở đây, nhưng qua kinh nghiệm nầy, chúng ta
sẽ luôn luôn hội ngộ với nhau ở nơi sự tương giao giữa các ý thức.
Và như vậy, thưa ngài, chúng tôi cảm
tạ ngài một cách thâm sâu vì đã hiện diện nơi đây. Tôi xin dâng lên
ngài những lời nguyện cầu của chúng tôi để ngài được hạnh phúc, cùng
bày tỏ lòng tri ân và những lời cầu chúc tốt đẹp nhất của chúng tôi
đối với mọi dự án của ngài.
Để kết thúc, tôi xin trích dẫn câu
nói của cha Thomas Merton: “Ở trong sâu thẳm của mỗi người chúng
ta, có một nơi chỉ toàn ánh sáng, một nơi mà tội lỗi không thể làm
hoen ố được”. Tôi xin cám ơn ngài đã cho phép chúng tôi, qua cuộc
hội ngộ nầy, được thấy nơi thuần túy ánh sáng đó ở chính nơi Ngài.”
Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma
“Tôi xin được biểu lộ nỗi vui mừng
của chúng tôi khi có cơ hội chia sẻ thời giờ rất quý báu nầy với quý
bạn. Tình bạn nối kết tôi với cha Laurence đã lớn lên qua những ngày
nầy. Tôi cũng xin lợi dụng cơ hội nầy để bày tỏ sự biết ơn sâu xa của
tôi về mọi ưu tư, những mối thiện cảm cũng như sự hỗ trợ đối với việc
làm của tôi cũng như đối với đất nước và dân tộc tôi, qua cha
Laurence. Những tâm tình của cha phát xuất từ một con tim rộng mở,
không chút che dấu. Những tâm tình đó đã tràn ngập tâm hồn tôi vừa
vui vừa buồn. Xin đa tạ.
Tôi cũng muốn tỏ bày sự biết ơn sâu
xa của tôi đối với tất cả quý bạn đã tham dự những buổi thuyết trình
và thảo luận nầy. Mặc dù những điều tôi trình bày rất “sơ lược”
và có phần “ứng khẩu”, tôi nhận thấy mọi người đã lưu tâm và
chăm chú nghe. Điều đó đã làm tôi xúc động rất nhiều.
Vì thế, cho dù quý bạn rút tỉa được
một chút lợi ích về điều tôi trình bày trong những ngày nầy hay qua
việc quý bạn tham dự cuộc hội thảo nầy mà thôi, tôi cũng lấy làm mãn
nguyện rồi. Với tất cả quý bạn, tôi tha thiết kêu gọi: xin quý bạn
cố gắng làm cho đời sống quý báu của quý bạn càng nhiều ý nghĩa hơn
càng tốt.”
MỤC
LỤC
|