|
ĐỨC GIOAN PHAOLÔ II ĐỨNG DẬY! TA ĐI NÀO! Hương Vĩnh dịch
LỜI DỊCH GIẢ: LÊNH ĐÊNH TRÊN MẶT ĐẠI DƯƠNG
Những ai có dịp tham gia một chuyến hải trình bằng du thuyền sẽ đánh giá cao những vị thuyền trưởng cùng nhân viên phục dịch trên những du thuyền đó. Đặc biệt, những du thuyền xuôi ngược theo những hải trình ở vùng Biển Caribbean, thường ghé qua những trạm ngừng tại Cayman Island, Cozumel, Belize city và Costa Maya với cảnh trí thật tuyệt vời! Trong những trạm trên đây, trạm dừng tại bãi biển COZUMEL là nơi mà tháng 11 năm 2005 vừa qua đã xảy ra một trận bão tố dữ dội khiến sóng biển dâng lên tràn ngập miền duyên hải và cuốn lôi những quán xá xuống biển. Những vết tang thương hiện còn để lại nơi đó. Những hàng dừa cao và cây xanh bóng mát xinh đẹp trước kia nay trở nên hoang tàn. Qua mạng truyền hình trong thời gian đó, thường xuất hiện hình ảnh những chiếc du thuyền bập bềnh trên sóng nước thật hãi hùng! Chắc chắn các vị thuyền trưởng lúc bấy giờ phải tận dụng hết khả năng để giữ vững con tàu vượt qua mọi cơn phong ba bão táp. Cương vị của Đức Giáo Hoàng trong Giáo Hội Công Giáo cũng tương tự vai trò của vị thuyền trưởng trên một du thuyền ở giữa đại dương. Vị thuyền trưởng đem hết sức mình để cùng với các cấp chỉ huy và thủy thủ đoàn cố gắng lèo lái con tàu an toàn, hầu mọi du khách được vui hưởng những ngày thích thú bình an trong chuyến hải trình. Tương tự, Đức Giáo Hoàng cùng với Giám Mục Đoàn ngày đêm cật lực chèo chống con thuyền Giáo Hội vượt qua đại dương trần thế trong mọi thời kỳ đảo điên ngõ hầu đến bến an toàn. Ngày 02-04-2006 tới đây kỷ niệm một năm Đức Thánh Cha Gioan Phao-lồ II băng hà. Ngài là một vị Giáo Hoàng hiện đại nêu gương “MỤC TỬ CHÂN CHÍNH” cho hết mọi mục tử trong Giáo Hội Công Giáo ngày nay. Những tâm tình mục tử của ngài đã được chính ngài ghi lại trong quyển tự thuật dưới nhan đề “LEVEZ-VOUS! ALLONS!” (ĐỨNG DẬY! TA ĐI NÀO!) vào năm 2003, nhân dịp kỷ niệm 45 năm tấn phong giám mục và 25 năm triều đại giáo hoàng của ngài. Ngài được yêu cầu viết ra những hoài niệm liên tục kể từ năm 1958 là năm ngài được bổ nhiệm giám mục. Đức Thánh Cha thuật lại những gì Chúa Quan Phòng đã tiên liệu cho ngài. Độc giả say mê quyển sách đó vì những “TÂM TÌNH CỦA NGƯỜI MỤC TỬ” tỏ lộ nơi Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, khi Ngài còn là Giám Mục, Tổng Giám Mục, cho đến Hồng Y rồi Giáo Hoàng. Suốt chiều dài lịch sử Giáo Hội, một số giáo hoàng đã trải qua những cơn “phong ba bão táp” kinh hồn của những thời đại tương ứng, như Đức Thánh Cha Piô XII trong thời Đệ Nhị Thế Chiến. Riêng Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị cũng gặp những đại họa không kém phần dữ dội, từ sự sụp đổ của chế độ Cộng Sản tại các nước Đông Âu và Nga Sô đến những băng hoại về mặt luân lý mà ngài mệnh danh là “VĂN MINH SỰ CHẾT”, chà đạp lên triệu triệu sinh mạng thai nhi và con người mỗi năm. Khi viết về cuộc đời của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, những khía cạnh trên đây đã được nhiều tác giả nhắc tới. Tuy nhiên Giáo Hội đang đứng trước một thách đố lớn lao xảy ra ngay trong lòng Giáo Hội: đó là “THÁI ĐỘ SỐNG CỦA CÁC MỤC TỬ” trong vai trò dẫn dắt đoàn chiên của Chúa. Đành rành môi trưòng mục vụ của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã xảy ra trong một thời điểm khác, với một không gian và thời gian đặc thù, nhưng “TINH THẦN CŨNG NHƯ TÂM TÌNH MỤC TỬ” của ngài thì chung cho hết mọi mục tử, vượt qua mọi không gian và thời gian cố định, để trở nên ngọn đèn soi sáng các mục tử khắp nơi, ngõ hầu “chăn dắt những đoàn chiên con và chiên mẹ của Chúa Kitô” theo tâm tình và ý hướng của Chúa. Khi tham gia những cuộc du thuyền trên đại dương, những chuyện bất trắc thường xảy ra cho du khách, như bị mất tích khi lên bờ du ngoạn, hoặc thất lạc khi đi mua sắm nhưng quên giờ giấc về tàu… Đó cũng là những hình ảnh bi thương thường xảy ra trong con tàu Giáo Hội. Sự kiện một số người lìa bỏ Giáo Hội ra đi một nơi vô định hay bị trễ tàu…trong thời đại nào cũng có. Ca dao Việt-Nam có câu: “Lênh đênh qua cửa Thần Phù, Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm.” Trách nhiệm các cấp mục tử trong Giáo Hội thật nặng nề biết bao! Các mục tử phải dẫn dắt Giáo Hội để không một ai bị chết chìm hay phải hư mất giữa đại dương trần thế, như lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trong bữa tiệc ly: “Con đã canh giữ và không một ai trong họ phải hư mất…” (Gio 17, 12). Khi nhắc tới khuôn mặt khả kính của Đức Cha Karol Joséf Vojtyla, Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận Cracovie – tức Đức Thánh Cha Gioan Phao-lồ II sau nầy - người ta không thể quên được khuôn mặt khả ái của Đức Cha Phi-líp-phê Nguyễn-Kim-Điền, Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận Huế, Việt-Nam, trước đây. Trong “THƯ MỤC VỤ” ngày 19/10/1985, gởi các linh mục, nam nữ tu sĩ và toàn thể giáo dân Giáo Phận Huế, Đức Tổng Giám Mục Phi-lip-phê Nguyễn-Kim-Điền đã viết: “Năm 1981, khi nhóm họp Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới, tôi đã tuyên bố điều nầy: ‘Trong quá khứ, nhiều Giám Mục đã chết để bênh vực quyền lợi Giáo Hội. Nhưng hiện nay, có Giám Mục nào sẵn sàng chết để bênh vực nhân quyền không?’ Ngày nay tôi được toại nguyện: Thiên Chúa kêu gọi tôi chịu lao tù và chết để bênh vực nhân quyền và công lý. …… Nhưng khi luật lệ ngược với Thánh Ý Thiên Chúa, vi phạm nhân quyền mà luật căn bản nhất là tự do tín ngưỡng, lúc đó, như tôi đã đăng ký trong biên bản lập tại sở công an tỉnh Bình Trị Thiên ngày 15/10/1984: ‘Như các thánh Tông Đồ khi xưa và các vị Tử Đạo mọi đời, tôi phải tuân phục luật Chúa hơn luật loài người’. Kết quả của việc đăng ký trên là lao tù và chết chóc. Những kết quả nầy, vị chủ chăn của anh chị em, ngày hôm nay đã sẵn sàng đón nhận. Ngài vui lòng đón nhận những kết quả đó như phần thưởng Chúa ban sau 25 năm Giám Mục, trong đó, 22 năm phục vụ Giáo Phận HUẾ. …… Giờ đây, thưa anh chị em thân mến, tôi chỉ xin anh chị em một điều: Đội ơn Thiên Chúa với tôi, và tăng thêm lời cầu nguyện để tôi hoàn toàn trung tín với Thiên Chúa và Giáo Hội cho đến hơi thở cuối cùng.” Với lời nguyện ước “trung tín cho đến hơi thở cuối cùng”, Thiên Chúa đã ban cho ngài một cái chết đầy quả cảm, một cái chết đã chinh phục lòng thương mến của mọi người – giáo dân cũng như lương dân. Trong tang lễ của ngài ngày 15 tháng 6 năm 1988, một người ngoại đạo đã thổ lộ những tâm tình thương mến qua những vần thơ dưới đây. Tác giả đã ký tên “TỪ TÂM”, nhưng không rõ đó là tên thật, bút hiệu hay pháp danh.
LÒNG NGƯỜI NGOẠI ĐẠO
Kính gởi Hương Hồn Đức cố Tổng Giám Mục Phi-lip-phê Nguyễn-Kim-Điền ngày ngài quá cố 08-06-1988
Con đến Phủ-Cam giữa ngày tang lễ, Góp nỗi buồn trong muôn vạn niềm đau. Hàng triệu tín đồ sát cánh bên nhau, Vạn vật đổi thay, lòng TIN bất diệt.
Cha với con tuy chưa từng quen biết, Lòng kính yêu Cha vô bến vô bờ. Sống giữa muôn người con vẫn bơ vơ, Nhiều lúc tâm tư hướng về tôn giáo.
Nhưng, tổ tiên con tám đời ngoại đạo, Lẽ nào con trái ý tổ tiên mình. Con sống sao cho trọn nghĩa trọn tình, Dù quá gian lao, dù nhiều đau khổ.
Nếu phải chết để đền ơn tri ngộ, Con tiếc chi chút bèo bọt hình hài. Con đứng từ xa, cúi mặt trước quan tài, Tình mến bao la, ngậm ngùi trong thương tiếc.
Con trân trọng kính gởi Cha lời CHÀO VĨNH BIỆT Đến Giáo Hội Việt-Nam lời chia buồn thắm thiết Của người con ngoại đạo kính yêu Cha.
Vừng trán thông minh, can đảm hiền hòa, Thắm đượm tình thương qua nhiều di ảnh. Ánh mắt long lanh, chứa đầy sức mạnh, Giản dị trên đầu chiếc nón bài thơ.
Cha mất đi, một chuyện quá bất ngờ, Đau xót xiết bao “người còn kẻ mất”. Thể xác Cha nằm yên trong thánh thất, Linh hồn Cha về cạnh Đức Chúa Trời.
Cha để lại cho đời Một lòng TIN bất diệt, Với khuôn mặt trang nghiêm, Với tinh thần quyết liệt, Lưu lại ân tình trong hàng triệu con chiên, Khi nhắc tên Cha “GIÁM MỤC NGUYỄN KIM ĐIỀN”
Thánh đường Phủ-cam Ngày tang lễ 15-06-1988 TỪ TÂM
Khi còn là tổng giám mục Cracovie, Đức Cha Karol Vojtyla đã hỗ trợ “Phong Trào Ốc Đảo” và ngài đã tham dự những trại hè được tổ chức cho giới trẻ thuộc phong trào. Trong cuộc hành hương vào năm 2003 ở Cracovie của Đức Thánh Cha Gioan Phao-lồ II, những thành viên ốc đảo đã hát lên như sau:
Chúa đã đến bên bờ biển; Ngài không kiếm tìm những người khôn ngoan, những kẻ giàu có, Ngài chỉ xin con theo Ngài.
Lạy Chúa, Chúa đã nhìn con trong đôi mắt, Chúa mỉm cười và gọi tên con. Chiếc thuyền của con, con để lại trên bờ, Cùng với Chúa con sẽ vượt qua một đại dương khác.
Và Đức Thánh Cha Gioan Phao-lồ II đã nói với họ: theo một nghĩa nào đó, bài hát của những ốc đảo đã đưa ngài ra khỏi quê hương, cho tới tận Roma. Nội dung thâm sâu của bài hát đã nâng đỡ ngài, ngay cả khi phải đối diện với sự quyết định của mật nghị các Đức Hồng Y. Và rồi, suốt chiều dài triều đại giáo hoàng của ngài, không bao giờ ngài tách lìa khỏi bài hát đó. Chúa đã ban cho Đức Tổng Giám Mục Karol Vojtyla được toại nguyện trong việc thể hiện lý tưởng ngài đã chọn lựa, cũng như Đức Tổng Giám Mục Phi-lip-phê Nguyễn Kim Điền được hoàn tất hành trình ngài đã dấn thân. Trong tâm tình kính mến Đức Thánh Cha Gioan Phao-lồ II và ước mong nhiều mục tử ngày nay sẽ theo bước chân ngài, chúng tôi chuyển dịch tác phẩm “LEVEZ-VOUS! ALLONS!” (ĐỨNG DẬY! TA ĐI NÀO!). Ngoài ra chúng tôi cũng mong muốn chia sẽ dịch phẩm nầy với toàn thể Cộng Đồng Dân Chúa, vì như Đức Thánh Cha Gioan Phao-lô II đã minh định: ơn gọi của mọi tín hữu được nhận lãnh Bí Tích Thánh Tẩy là “trở nên hoàn thiện như Cha trên Trời là Đấng Hoàn Thiện”. Sách gồm có SÁU CHƯƠNG, ngoài “LỜI GIỚI THIỆU” và phần “DẪN NHẬP”. Những đoạn Phúc Âm trưng dẫn trong tài liệu nầy được trích từ quyển “KINH THÁNH TRỌN BỘ - CỰU ƯỚC VÀ TÂN ƯỚC” do Tòa Tổng Giám Mục Thành Phố Saigon thực hiện năm 1998. Tiến trình phong thánh cho Đức Thánh Cha Gioan Phao-lồ II đã bắt đầu vào tháng 5 năm 2005 khi Giáo Phận Roma kêu gọi các tín hữu Công Giáo đứng ra làm chứng xem Đức Thánh Cha có xứng đáng nên thánh không. Phải có một phép lạ xảy ra sau khi Đức Thánh Cha băng hà để có thể tiến hành phong chân phước cho Ngài. Và cần thiết phải có một phép lạ nữa sau khi phong chân phước để có thể phong thánh cho Ngài. Toà thánh đã chắc chắn phép lạ đầu tiên trong tiến trình phong chân phước cho Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, đó là việc khỏi bệnh mà giới y khoa không giải thích được của một nữ tu người Pháp bị bệnh Parkinson như ngài. Trong cuộc phỏng vấn của đài truyền hình Rai của Ý và hãng tin Reuters của Đức, Đức ông Slowomir Oder, người đứng đầu ủy ban điều tra phong thánh cho Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã cho biết rằng tiến trình điều tra sơ khởi bắt đầu vào tháng 10 năm 2005, về việc lành bịnh của một nữ tu ẩn danh ở Pháp. Ngài nói rằng nữ tu người Pháp này bị suy yếu giống như Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II trong giai đoạn cuối đời của ngài và đã được lành bệnh một cách lạ lùng khi cầu nguyện với Đức Thánh Cha sau khi ngài qua đời. Đức Ông Slowomir Oder nói rằng những điều tra viên của Tòa Thánh sẽ bắt đầu nghiên cứu chính thức và chi tiết hơn về sự lành bệnh lạ lùng nầy.
Hương Vĩnh Mùa Xuân Bính Tuất - 2006
LỜI GIỚI THIỆU
Ngài Karol Joséf Wojtyla - trở thành Giáo Hoàng Gioan Phaolô II vào năm 1978 – sinh ngày 18 tháng 5 năm 1920 ở miền Wadowice, Ba-Lan. Ngài theo học ngành kịch nghệ tại Đại Học Cracovie. Sau khi đại học nầy bị quân đội Đức Quốc Xã đóng cửa, ngài Karol thoát được, khỏi bị giam giữ tại các trại tập trung ở Đức quốc. Từ năm 1942, ngài theo học ở chủng viện chui tại Cracovie. Sau Đại Thế Chiến Thứ Hai, ngài học môn thần học ở đại học cho tới khi được phong chức linh mục vào năm 1946. Tiếp theo sau những năm học tiến sĩ, linh mục Wojtyla trở thành giáo sư thần học luân lý và đạo đức học về xã hội tại Đại Chủng Viện Cracovie và Phân Khoa Thần Học ở Lublin. Năm 1958, Đức Thánh Cha Piô XII bổ nhiệm ngài làm Giám Mục phụ tá ở Cracovie. Năm 1964, ngài được Đức Thánh Cha Phaolô VI bổ nhiệm làm Tổng Giám Mục Cracovie và được phong tước vị Hồng Y năm 1967. Khởi từ triều đại giáo hoàng của ngài vào ngày 16 tháng 10 năm 1978, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã thực hiện nhiều chuyến tông du tại nhiều nơi trên thế giới. Ngài đã ban hành nhiều văn kiện tôn giáo (thông điệp, tông huấn), và xuất bản một số sách trong đó có quyển tự thuật, nhan đề “Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng” (năm 1994) và gần đây là quyển “Đứng Dậy! Ta Đi Nào!” (năm 2003) – một tác phẩm chứa đựng những suy tư về cuộc đời và sứ vụ giám mục của ngài. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã viết: “Khi đến ‘giờ của Ngài’, Chúa Giêsu nói với những người ở với Ngài trong vườn Giết-sê-ma-ni là Phê-rô, Gia-cô-bê và Gioan – những môn đệ mà Ngài đặc biệt yêu thương: ‘Đứng dậy! Ta đi nào!’ Chúa Giêsu không phải một mình ‘ra đi’ làm trọn Thánh Ý Chúa Cha: họ cũng phải ra đi với Ngài nữa. Tôi nói điều đó nhằm nhắc tới nơi chốn mà tình yêu Chúa Kitô Đấng Cứu Thế đã dẫn đưa tôi, bằng cách kêu gọi tôi ra khỏi quê hương tôi để sinh hoa kết quả ở nơi khác, một hoa trái được tồn tại, nhờ Ân Sủng của Ngài. Vì vậy, để làm vang động lại lời của Thầy Chí Thánh và Chúa chúng ta, tôi cũng lặp lại với mỗi một người trong anh em, thưa Chư Huynh rất thân mến trong chức giám mục: ‘Đứng dậy! Ta đi nào!’ Hãy đi trong sự phó thác nơi Chúa Kitô. Ngài sẽ đồng hành với chúng ta để đạt tới mục đích mà chỉ một mình Ngài biết được.”
DẪN NHẬP Khi phát hành quyển sách “Ma vocation: don et mystère” (Ơn gọi của tôi: tặng phẩm và huyền nhiệm” ghi lại những kỷ niệm và suy tư về lúc khởi đầu cuộc đời linh mục của tôi, tôi đã nhận được nhiều chứng từ đón tiếp nồng hậu đối với quyển sách đó, nhất là về phía giới trẻ. Theo những gì người ta nói với tôi, đối với nhiều người trong giới trẻ đó, phần bổ sung của Tông Huấn “Pastores dabo vobis” (“Thầy sẽ ban cho các con những mục tử”) được xác nhận là một sự hỗ trợ quí báu để trao ban cho họ một sự nhận thức đúng đắn về ơn gọi của họ. Điều đó khiến tôi rất vui. Cầu xin Chúa Kitô tiếp tục dùng những suy tư đó để đem nhiều người trẻ khác lắng nghe tiếng mời gọi của Ngài: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người.” (Mc 1, 17). Nhân dịp kỷ niệm 45 năm tấn phong giám mục và 25 năm triều đại giáo hoàng của tôi, tôi được yêu cầu ghi lại những hoài niệm liên tục kể từ năm 1958 là năm tôi trở thành giám mục. Tôi thiết tưởng phải chấp nhận lời thỉnh cầu đó, cũng như tôi đã chấp nhận sự gợi ý để cho ra đời quyển sách trước đây. Một lý do nữa để thu thập và sắp xếp cho có thứ tự những ký ức và suy tư đó phát sinh bởi một trình tự tăng tiến của một tài liệu dành cho sứ vụ giám mục. Đó là Tông Huấn “Pastores gregis” (“Các mục tử đoàn chiên Chúa”) mà trong đó tôi đã trình bày một cách có hệ thống những ý tưởng được phát biểu suốt khóa họp khoáng đại lần thứ X của Thượng Hội Đồng Giám Mục diễn ra trong dịp kỷ niệm năm thánh 2000. Trong khi lắng nghe những nghị phụ trình bày cũng như nắm bắt ý nghĩa những văn bản đề nghị, tôi cảm thấy thức dậy trong tôi nhiều kỷ niệm, cũng như nhiều năm tôi được giao phó việc phục vụ Giáo Hội ở Cracovie và trải qua những kinh nghiệm mới tại Roma, trong tư cách người kế vị Thánh Phê-rô. Tôi đã cố gắng viết ra những tư tưởng đó với niềm ước mong cũng được chia sẻ với những người khác về chứng tá tình yêu Chúa Kitô, trải qua bao thế kỷ, luôn mời gọi những người mới kế vị các tông đồ, ngõ hầu tuôn tràn Ân Sũng của Ngài trên con tim những anh em khác, qua trung gian những chiếc bình sành mỏng dòn. Những hoài niệm của tôi luôn chan chứa những lời Thánh Phao-lô nói với vị giám mục trẻ tuổi Timothée: “Chúa đã cứu độ và kêu gọi chúng ta, không phải vì chính những công việc chúng ta đã làm, nhưng là do kế hoạch và ân sủng của Ngài. Ân sủng đó, Ngài đã ban cho chúng ta từ muôn thuở trong Đức Kitô Giêsu.” (2Tm 1, 9). Tôi hiến tặng những trang sách nầy như là dấu ấn tình yêu của tôi đối với anh em trong chức giám mục và đối với hết thảy dân Chúa. Ước mong những trang sách nầy soi sáng cho những ai muốn biết sự cao cả của sứ vụ giám mục và nỗi tân khổ cũng như niềm vui do sứ vụ đó mang lại trong tác vụ hằng ngày! Tôi mời gọi hết mọi độc giả hãy cùng tôi cất lên bài ca “Tạ Ơn” (“Te Deum”) để cảm tạ Hồng Ân Thiên Chúa. Hãy hướng mắt về Chúa Kitô, được nâng đỡ bởi niềm hy vọng không lừa dối, chúng ta hãy cùng nhau tiến vào thiên niên kỷ mới: “Đứng dậy! Ta đi nào!” (Mc 14, 42). Gioan Phao-lồ II
MỤC LỤC Lời Dịch Giả: Lênh đênh trên mặt đại dương Lời Giới Thiệu Dẫn Nhập Chương II.- Hoạt động Giám Mục Chương III.- Cam kết khoa học và mục vụ Chương IV.- Tình phụ tử của Giám Mục Chương V.- Tập thể tính Giám Mục Chương VI.- Thiên Chúa và lòng can đảm
|