|
CÁI CHẾT LÀM RUNG
CHUYỂN ĐỊA CẦU
Hương Vĩnh
Một vì sao lặn
Đức Thánh Cha
Gioan Phaolồ Đệ Nhị băng hà lúc 9 giờ 37 phút tối – giờ thành phố
Roma – nhằm thứ bảy ngày 2 tháng 4 năm 2005, đúng 46 ngày sau khi
mừng lễ sinh nhật thứ 85 của Ngài.
Theo truyền
thống bắt buộc, vào lúc Ngài từ trần, các cộng sự viên gọi tên Ngài
ba lần: “Karol! Karol! Karol!” Khi Ngài không đáp lại, họ
tuyên bố Ngài đã ly trần. Rồi cũng theo truyền thống, chiếc nhẫn
giáo hoàng của Ngài được cởi ra và đập vỡ tan.
Ngài ra đi cũng
như khi Ngài còn sống, mọi việc đều được diễn tiến theo sự lượng
định của Ngài. Ngài đã về lại Tòa Thánh Vatican sau khi lưu ngụ ở
bệnh viện Gemelli tại Roma lần thứ hai ngay trước lễ Phục
Sinh và Ngài đã khước từ trở lại đó khi cảm thấy sức khỏe trở nên
suy yếu một cách nhanh chóng. Ngài biết mình sắp lìa đời và đã chuẩn
bị ra đi.
Ít phút sau khi
Đức Thánh Cha Gioan Phaolồ Đệ Nhị băng hà, Đức Tổng Giám Mục
Leonardo Sandri – một giáo sĩ cao cấp của Tòa Thánh Vatican – đã
bước ra ngoài và công bố việc Đức Thánh Cha từ trần cho hằng chục
ngàn người tụ tập ở Công Trường Thánh Phêrô. Một giờ sau đó, các
chuông Vatican ngân lên báo tin buồn cho dân thành Roma và toàn thế
giới.
Vào sáng Chúa
Nhật hôm sau, dân chúng tụ tập đông đảo tham dự Thánh Lễ ngoài trời,
khởi đầu thời gian thọ tang chính thức. Sau đó trong ngày, thi hài
của Đức Thánh Cha được đặt ở đại sảnh, nơi Ngài thường có những cuộc
triều yết chung.
Bắt đầu là cuộc
kính viếng dành riêng cho những giáo sĩ cao cấp – các vị hồng y và
giám mục – thuộc Tòa Thánh Vatican. Kế đó là các viên chức trọng yếu
của chính phủ Ý do tổng thống Carlo Ciampi và thủ tướng
Silvio Berlusconi cầm đầu.
Thi hài của
Ngài mang phẩm phục màu đỏ và trắng của giáo hoàng. Đầu Ngài đội
vương miện màu trắng viền vàng, được đặt trên ba cái gối lấp lánh
màu vàng. Cây gậy mục tử bằng bạc nằm bên cánh tay trái Ngài.
Các ống truyền
hình của báo giới Ý đua nhau thu hình, khởi đầu tiến trình hầu như
không ngừng nghỉ về đám táng của Đức Thánh Cha. Phát ngôn viên Tòa
Thánh Vatican – tiến sĩ Joaquin Navarro-Walls – sau đó thông
báo là Tòa Thánh đã phân phát ba ngàn năm trăm bản thông tin chính
thức cho các nhà báo.
Mọi nẻo đường đưa đến Roma
Về sau, thi hài
Đức Thánh Cha được an vị trong Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô từ
trưa thứ hai ngày 4 tháng 4 cho tới khi an táng vào thứ sáu ngày 8.
Một dòng thác người đổ về Công Trường Thánh Phêrô để được chiêm ngắm
thi hài của Đức Thánh Cha, dù trong giây phút ngắn ngủi.
Nửa triệu người
đã lặng lẽ đi qua linh cữu của Ngài ngày thứ ba và hôm sau một triệu
người khác cũng đã đi qua. Trong số những người đến kính viếng thi
hài Đức Thánh Cha, có những viên chức cao cấp của các chính phủ trên
thế giới. Tổng thống George W. Bush, tổng thống phu nhân là
Laura, các cựu tổng thống George H. W. Bush và Bill
Clinton đã quì cầu nguyện bên thi hài Ngài ngay sau khi đến Roma
vào chiều tối thứ tư.
Cùng với những
ngày trôi qua, khách hành hương đã đến bằng máy bay, xe lửa, xe
buýt, xe hơi và cả xe gắn máy nữa. Thời gian phải đứng xếp hàng càng
ngày càng lâu hơn đối với những ai hy vọng được chiêm ngắm thi hài
Đức Thánh Cha. Vào ngày thứ hai, thời gian chờ đợi thông thường là 5
giờ đồng hồ. Qua ngày thứ tư, thời gian đó kéo dài hơn 10 tiếng.
Sự chen chúc đã
trở nên tồi tệ cho đền nỗi vào ngày thứ năm tờ báo hằng ngày ở Roma
“Il messagero” đã chạy tít lớn là “Xin Khách Hành Hương
Dừng Lại” Lời kêu gọi đó hoàn toàn vô hiệu.
Người ta tin
tưởng có tới bốn triệu người đã tới Roma để tiễn biệt người Cha
thương mến nằm trong Vương Cung Thánh Đường, sau khi phải đi qua các
máy dò bằng kim khí và những máy rà quang tuyến tối tân
Bảo vệ Roma an toàn và khỏi ứ đọng
Với những đoàn
khách hành hương đông đảo tuôn về Roma tham dự đám táng Đức Thánh
Cha Gioan Phaolồ Đệ Nhị, Hội Đồng Thành Phố Roma đã dẹp bỏ hết những
bảng “STOP” để giữ cho thành phố không những an toàn mà còn
xê dịch được.
Roma vốn có một
dân số ba triệu bảy trăm ngàn người. Một số ước lượng từ ba tới bốn
triệu người tới tham dự đám táng. Khi dân số thành phố đông gấp đôi,
Roma phải cần tới mười lăm ngàn cảnh sát viên và nhân viên quân đội
tuần tiễu các đường phố, chỉ dẫn dân chúng đi đến Vương Cung Thánh
Đường Thánh Phêrô.
Những viên chức
thành phố cung cấp cho khách hành hương những chai nước uống và chăn
đắp nếu họ phải nghỉ đêm dọc đường để giữ chỗ theo hàng lối cho ngày
hôm sau. Vì những phòng ốc trong các khách sạn đã được mướn hết nên
thành phố Roma đã dựng lên những lều trại để cung ứng cho đoàn người
đông đảo và dân thành Roma cũng cung cấp giường chõng cho khách hành
hương.
Hằng trăm ngàn
dân Ba-Lan đã nhảy lên xe buýt hay xe lửa và trực chỉ Roma để vinh
danh một người đồng hương lừng danh và quý mến của họ.
Để bảo vệ
khoảng tám mươi vị nguyên thủ quốc gia đến Roma tham dự đám
tang, những chiếc trực thăng cảnh sát và những chiến đấu cơ không
lực Ý tuần tiểu trên không phận Roma.
Khi cử hành
Thánh Lễ an táng, một vùng trời năm dặm trên không trung Roma được
đóng lại đối với mọi không lưu, ngoại trừ máy bay truyền hình, những
trực thăng tuần tiễu và một máy bay thám thính AWACS của Khối Liên
Phòng Đại Tây Dương tuần thám. Tàu hải quân Ý tuần hành vùng duyên
hãi và canh gác dọc theo sông Tiber.
Lực lượng cảnh
bị quốc gia Ý trấn đóng hầu hết mọi ngõ ngách quan trọng trong thành
phố Roma. Những lính thiện xạ được trấn đóng trên các cao ốc để quan
sát Công Trường Thánh Phêrô.
Ngay cả những
vị thượng khách cũng phải đi qua những máy dò kim khí và những túi
xách của họ cũng phải cho qua những máy rà quang tuyến X, trước khi
vào chỗ ngồi bên cánh phải quan tài trong Thánh Lễ an táng.
Các cơ sở
thương mại và học đường ở Roma đều đóng cửa trong ngày lễ an táng và
mọi lưu thông bằng xe cộ đều bị cấm chỉ trong khu vực bao quanh Công
Trường Thánh Phêrô. Những xe hơi sang trọng đưa đón các vị chức sắc
các giáo hội hay những nhân viên chính phủ chỉ dừng lại cho khách
lên xuống và di chuyển ngay.
Vì Công Trường
Thánh Phêrô không thể dung chứa hết dân chúng tham dự đám tang nên
hai mươi bảy màn ảnh truyền hình cỡ lớn được dựng lên trong thành
phố để trực tiếp truyền hình cho dân chúng theo dõi diễn tiến buổi
lễ.
Thành phố Roma
có thể hãnh diện vì đã cố gắng điều hướng một cách tốt đẹp những
đoàn khách hành hương đông đảo như thế. Mặc dù trên mấy triệu người
tràn qua biên giới trong vài ngày thôi, nhưng không xảy ra một biến
cố trầm trọng nào.
Điều không may
duy nhất – nhưng không quan trọng mấy – đó là sau khi Thánh Lễ an
táng chấm dứt, vì sự khiếm khuyết trong vấn đề thông tin, một máy
bay F-16s của Ý Đại Lợi vội vàng cưỡng bách một phi cơ nhỏ đã bay
lạc vào không phận bị cấm chỉ phải hạ cánh ở một phi trường kế cận.
Dòng người đủ loại
Đối với dân
chúng thành phố Roma, dòng thác người đổ vào Công Trường Thánh Phêrô
đã mang nhiều sắc thái đặc biệt. Dân chúng Hoa Kỳ mặc áo quần cụt,
người Phi châu mang sắc phục bản xứ, người Phi Luật Tân với áo sơ mi
vẽ những bông hồng sặc sỡ, những tu sĩ mặc áo dòng tự đan dệt lấy và
đi dép. Hầu hết đều trang bị điện thoại cầm tay. Trong đám đông đó,
có cả những người cỡi xe gắn máy và mặc áo da nữa.
Ngạc nhiên biết
bao, bên cạnh những người Âu châu tuôn đến Roma, có rất nhiều người
khác đến từ những nơi rất xa xôi. Một chị trẻ tuổi đến từ
Congo
đã giải thích cho một phóng viên tạp chí “Le Monde” của Pháp
như sau: “Đức Thánh Cha không bao giờ ngừng đến thăm dân chúng
khắp nơi trên địa cầu. Khi nghe tin Ngài qua đời, dân chúng đã rời
bỏ làng mạc của mình để trả lại cho Ngài những gì mà Ngài đã trao
ban cho họ.”
Vào ngày tang
lễ, dân chúng đã chui ra khỏi những túi ngủ ở bên các vệ đường vào
lúc năm giờ sáng và bắt đầu tiến về Công Trường Thánh Phêrô. Cơ quan
công quyền đã đóng lại các nẻo đường chính của thành phố Roma. Sự
lưu thông bằng xe hơi bị cấm chỉ, ngoại trừ những đoàn xe hộ tống
đưa đón các nhân vật cao cấp thuộc các chính phủ của nhiều quốc gia.
Vị thế của Đức Thánh Cha trên hiện
trường quốc tế
Vị thế của Đức
Thánh Cha trên thế giới đã được phản ảnh bởi số chức sắc các tôn
giáo và thủ lãnh các quốc gia tham dự Thánh Lễ an táng.
Khoảng một ngàn bốn trăm nhân viên cao cấp của các chính phủ
gồm có bốn vị hoàng đế, năm bà hoàng hậu, bốn mươi bốn vị quốc
trưởng, hai mươi lăm thủ tướng, các tổng trưởng, bộ trưởng và các
đại sứ đại diện cho hơn 140 quốc gia bên cạnh Tòa Thánh. Họ ngồi bên
phải quan tài của Đức Thánh Cha Gioan Phaolồ Đệ Nhị được an vị trước
Vương Cung Thánh Đường.
Phía đối diện
là sáu trăm vị chức sắc các tôn giáo khác bao gồm đại diện
các Giáo Hội Chính Thống, Chính Thống Giáo Đông Phương, Anh Giáo,
Tin Lành và những cộng đoàn truyền bá Phúc Âm của Hoa-Kỳ. Mười cộng
đoàn Do-Thái Giáo và mười cộng đoàn Hồi Giáo cũng gởi đại diện, cũng
như sự có mặt của các đại diện Phật Giáo, Silks và Ấn Giáo.
Ngồi sau quan
tài là những giáo sĩ cao cấp của Tòa Thánh Vatican được sắp xếp theo
thứ tự đẳng cấp giáo sĩ.
Đứng trên bình
diện chính trị, những vị thủ lãnh các quốc gia là những người
có quyền thế – kể cả quyền sinh sát – nhưng họ đều đến nghiêng mình
trước một nhân vật chỉ có quyền uy tinh thần mà thôi. Đấy là những
người, trong một hoàn cảnh khác, có khi chẳng muốn nhìn mặt nhau,
nhưng đều trịnh trọng đến nơi đây để trao nhau những cái bắt tay xã
giao và những lời thăm hỏi có tính cách lịch sự, dù chỉ trong giây
lát.
Tổng thống
George W. Bush với tổng thống phu nhân là Laura ngồi một
bên và bên kia là các cựu tổng thống Bush cha và Bill
Clinton. Họ ngồi hàng ghế thứ hai, không xa tổng thống Pháp là
Jacques Chirac mà có lúc đã cúi xuống hôn tay bà bộ trưởng
Condolezza Rice của Hoa Kỳ.
Dư luận cũng
bàn tán, vì một sự sắp xếp vô tình hay hữu ý nào đó mà Tổng thống Mỹ
phải ngồi gần Tổng thống Mohamad Khatami của Iran. Dư luận
cũng chú ý đến một vị trưởng giáo Do Thái ngồi bên cạnh các trưởng
giáo Đạo Hồi hay các lãnh tụ Ả Rập. Họ không nói với nhau một lời và
họ cũng chẳng nói gì với Tổng thống Hamid Karzai của Á Phú
Hãn
Tổng thống
Horst Koehler, thủ tướng Gerhard Schroeder và ngoại
trưởng Joschka Fischer đại diện cho Đức quốc. Thủ tướng
Tony Blair và hoàng tử Charles đại diện cho Anh quốc.
Hoàng tử Charles là người đã hoãn lại hôn lễ một ngày để tham dự đám
tang. Hoàng đế Juan Carlos của Tây Ban Nha đã tham dự cùng
với nữ hoàng Sophia.
Còn có tổng
thống nước Brazil là Luiz Inacio da Silva, tổng thống nước
Ukraine là Viktor Yushchenko, tổng thống nước Iran là
Mohammad Khatami, tổng thống nước Zimbabwe là Robert Mugabe
và thủ tướng Canada là Paul Martin. Tổng Thư Ký Liên Hiệp
Quốc là ông Kofi Annan đại diện cho cộng đồng thế giới. Ông
Lech Walesa – sáng lập viên Công Đoàn Đoàn Kết và là cựu tổng
thống tiên khởi của Ba Lan sau khi chế độ Cộng Sản của nước nầy sụp
đổ – đã tháp tùng tổng thống đương nhiệm.
Các đệ nhất phu
nhân hay hoàng hậu, đều khoác khăn choàng đen. Đẹp nhất, như một tài
tử điện ảnh Mỹ, là hoàng hậu Raina của xứ Jordan. Nghiêm
chỉnh nhất là hoàng hậu Paola của Bỉ và phu nhân tổng thống
Pháp là Bernadette Chirac. Dịu dàng và kín đáo là ngoại
trưởng Condoleezza Rice của Hoa Kỳ.
Nghi thức khâm liệm
Trước khi quan
tài được khiêng ra Công Trường Thánh Phêrô, Đức Tổng Giám Mục
Stanislaw Dziwiz, theo nghi lễ cổ truyền, đã che mặt Đức Thánh
Cha bằng một tấm lụa trắng. Đức Tổng Giám Mục Piero Marini,
trưởng ban nghi lễ, để hai đồ vật trong quan tài. Đó là một túi nhỏ
đựng những đồng tiền Vatican bằng vàng và bạc được đúc trong triều
đại giáo hoàng của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị và một ống bằng
kim khí lưu giữ tiểu sử của Ngài viết bằng La ngữ.
Tài liệu nầy
được đọc lên trước khi đặt vào trong quan tài. Tài liệu ghi lại “cuộc
đời và những thành quả quan trọng nhất của Đức cố Giáo Hoàng”,
theo đó Ngài đã qua đời ngày 02 tháng tư năm 2005, lúc 9 giờ 37 phút
tối và “toàn thể Giáo Hội, đặc biệt là giới trẻ, đã đồng
hành trong cuộc ra đi của Ngài bằng lời cầu nguyện”. Tài liệu
còn ghi tiếp: “Đức Thánh Cha Gioan Phao-Lồ Đệ Nhị là vị Giáo
Hoàng thứ 264. Ngài sống mãi trong con tim của Giáo Hội và của cộng
đồng nhân loại.”
Đó là một triều
đại giáo hoàng dài hơn 26 năm, “một trong những triều đại lâu dài
nhất của lịch sử Giáo Hội” và được diễn biến trong một thời điểm
có nhiều đổi thay lớn lao trong lịch sử.
Giữa những đề
tài chính của triều đại giáo hoàng nầy được nổi bật nhất là lòng yêu
thương của Ngài đối với giới trẻ, sự cổ võ cuộc đối thoại với người
Do-Thái và những thành phần các tôn giáo khác, sự nhiệt thành cầu
nguyện bằng tràng chuỗi Mân Côi và sự “khôn ngoan cùng can đảm”
theo đó Ngài đã đề xướng những giáo huấn của Giáo Hội Công Giáo.
Kế đó, Đức Tổng
Giám Mục Stanislaw Dziwicz, thư ký riêng của Đức Thánh Cha
trên hơn ba mươi năm và Đức Tổng Giám Mục Piero Marini, giám
đốc nghi lễ của Đức Thánh Cha, đã phủ một tấm lụa trắng trên khuôn
mặt Ngài.
Đức Hồng Y
Eduardo Martinez Somalo, chưởng ấn của Giáo Hội, giải thích nghi
thức đó cho những người hiện diện như sau: “Chúng ta phủ mặt Ngài
với sự tôn kính trong niềm cậy trông sâu xa là Ngài được chiêm ngắm
dung nhan Cha trên trời, cùng với Đức Trinh Nữ Maria và toàn thể các
Thánh.”
Tiếp theo đó,
Đức Hồng Y đã cầu nguyện với Chúa: “Ước gì diện mạo của Ngài mà
ánh sang trần gian không còn chiếu giải nữa, sẽ được chiếu sáng đến
muôn đời bởi ánh sáng chân thật phát xuất từ nguồn sáng chẳng hề tắt
của Chúa. Ước gì diện mạo Ngài bị che khuất khỏi chúng con, được
chiêm ngắm vẻ đẹp muôn đời của Chúa.”
Sau đó, Đức
Hồng Y Eduardo Martinez Somalo rảy nước thánh trên thi thể
Đức Thánh Cha và tiếp theo, quan tài bằng gỗ bách được đóng kín lại.
Trên quan tài của Đức Thánh Cha có khắc một cây thánh giá đơn sơ và
chữ “M” – chữ tắt của Mẹ Maria
Đài truyền hình
chính thức của nước Ý là RAI UNO, cho biết một nắm đất lấy từ
Wadowice – thành phố Đức Thánh Cha sinh ra – đã được pha trộn với
đất ở nơi nhà nguyện mà Đức Thánh Cha được chôn cất và bỏ vào trong
quan tài. Tuy nhiên tiến sĩ Navarro-Valls cho biết ông không thể
kiểm chứng tin nầy.
Thánh lễ an táng
Khoảng ba trăm
ngàn người đã đứng sát nhau trong hàng cột bao quanh công trường
Thánh Phêrô, trong khi một số khác khoảng hai trăm năm mươi ngàn
người tụ tập tại các nẻo đường bao quanh Vương Cung Thánh Đường
Thánh Phêrô. Một nửa triệu người khác đã tập họp ở những nơi trọng
yếu khác trong thành phố để theo dõi Thánh Lễ qua hai mươi bảy màn
truyền hình lớn.
Ở một địa điểm,
một thông dịch viên người Ba Lan cầm máy vi âm thông dịch cho khách
hành hương Ba Lan. Tại một địa điểm khác, khách hành hương được diễn
giải bằng tiếng Đức.
Đúng mười giờ
sáu phút sáng, mười hai vệ binh Thụy Sĩ của giáo hoàng trong trang
phục nghi lễ với găng tay trắng đã khiêng quan tài ra khỏi Vương
Cung Thánh Đường và đặt trên một tấm thảm Á Đông trải trên nền đá ở
trước bàn thờ lộ thiên.
Ánh mặt trời le
lói qua các cụm mây. Một cơn gió lộng thổi qua Công Trường, cuốn
những tà áo đỏ của các vị hồng y. Ở trên quan tài, Đức Tổng Giám Mục
Piero Marini đặt một quyển Thánh Kinh bọc da màu đỏ mà cơn
gió đã lật qua một số trang rồi tự gập lại.
Một hồi chuông
chiêu mộ ngân lên khi quan tài được đặt xuống một cách trang trọng.
Ca đoàn nhà nguyện Sixtine cất lên bài ca “Requiem in aeternam”
(Xin Chúa cho Ngài được nghỉ an đời đời) để mở đầu Thánh
Lễ do Đức Hồng Y Ratzinger, Niên Trưởng Hồng Y Đoàn chủ tế.
Ngoài ra còn
có sự tham dự của 163 trong tổng số 183 hồng y trên toàn thế
giới, của 500 giám mục với sắc phục màu đỏ và 3000 linh
mục.
Đức Hồng Y
Ratzinger là vị sau nầy sẽ được bầu làm đưong kim giáo
hoàng, với danh hiệu Bênêđitô XVI. Ngài là người xứ Bavaria và cộng
sự viên của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị trong gần ba thập
niên. Ngài đã phục vụ trong chức vị Tổng Trưởng Thánh Bộ Bảo Vệ Tín
Lý và Đức Tin.
Hai ca đoàn hát
lên những thánh ca bằng tiếng La Tinh cùng với sự hòa nhạc của một
cây đàn trong Vương Cung Thánh Đường. Thánh Lễ được cử hành bằng
tiếng Ý và tiếng La Tinh cùng với việc tuyên xưng đức
tin qua Kinh Tin Kính của Công Đồng Nicene. Những bài Thánh kinh
trong Thánh Lễ được đọc bằng tiếng Tây-Ban-Nha, tiếng Anh
và tiếng La-tinh.
Lời nguyện
giáo dân được đọc bằng tiếng Pháp, tiếng Swahili,
Tagalog, Ba-Lan, Đức và Bồ-Đào-Nha. Những
lời nguyện đó hướng đến việc cầu xin cho linh hồn Đức cố Giáo Hoàng
được nghỉ an đời đời, cho Giáo Hội Công Giáo được trung thành và đổi
mới, cho sự hòa bình công chính trên thế giới, cho linh hồn những vị
giáo hoàng đã ra đi trước đây và cho tất cả những linh mục quá cố,
cho tất cả những giáo hữu đã qua đời và cho mọi người hiện diện
trong dịp lễ an táng nầy.
Trong Thánh Lễ,
Công Trường Thánh Phêrô bị tràn ngập bởi rừng cờ xí tung bay trước
gíó, trong đó có nhiều cờ trắng đỏ của Ba Lan. Một số lá cờ của Ba
Lan in hình chim đại bàng, biểu hiệu tinh thần quốc gia và sự tự do.
Những lá cờ khác thuộc những thành phố Ba Lan rất khăng khít trong
con tim của Đức Thánh Cha khi sinh thời.
Dân chúng đã
trưng lên những biểu ngữ với hàng chữ “Santo Subito” với ý
nghĩa là Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị cần được phong thánh
ngay.
Đức Hồng Y
Ratzinger đã thuyết giảng trong hai mươi phút bằng tiếng
Ý. Đối với vị giáo sĩ nầy mà bình thường tỏ ra lạnh nhạt và khó lay
chuyển, đó là một kinh nghiệm hết sức xúc động. Ngài đã thuyết giảng
như sau:
“Hãy theo
Thầy! Khi Chúa Giêsu Phục Sinh, Ngài đã nói những lời nầy
với vị Tông Đồ Phêrô. Đó là những lời cuối cùng của Ngài cho vị môn
đệ nầy là người được Ngài chọn để chăn dắt đoàn chiên.
Hãy theo
Thầy!
Câu nói nền tảng của Chúa Kitô có thể được xem như là mấu chốt để
có thể hiểu được thông điệp mà Thiên Chúa muốn gởi đến qua
cuộc đời của vị Cha Chung quá cố kính yêu của chúng ta là Đức Thánh
Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị.
Ngày hôm
nay, chúng ta an táng Ngài nơi lòng đất như là hạt giống của sự bất
tử – trái tim của chúng ta trào dâng rất nhiều nổi buồn đau, nhưng
cũng đồng thời chan chứa thật nhiều niềm hy vọng vui sướng và lòng
biết ơn, ngưỡng mộ sâu sắc.
……
Không ai
trong chúng ta lại có thể quên được Chúa Nhật
Phục Sinh cuối cùng của đời Ngài. Đức Thánh Cha – dẫu đau khổ tột
bực – vẫn một lần nữa tiến ra cửa sổ của Dinh Thự Tông Đồ, và lần
cuối cùng, Ngài chúc phúc cho chúng ta, – urbi et orbi
(cho thành phố Roma và cho toàn thế giới).
Chúng ta có
thể chắc chắn rằng vị Giáo Hoàng khả kính của chúng ta ngày hôm nay,
cũng đang đứng tại cửa
sổ nhà Cha, để nhìn xuống và chúc phúc cho tất cả chúng ta. Vâng,
xin hãy chúc phúc cho chúng con, hỡi Đức Thánh Cha!”
Trong khi nói
như thế, Đức Hồng Y chỉ tay lên cửa sổ Dinh Thự Giáo Hoàng mà Đức
Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị thường hay đứng. Đức Hồng Y tỏ ra rất
xúc động.
Đức Hồng Y muốn
nhắc lại biến cố trước đây: trong khi các màn ảnh truyền hình hướng
lên cửa sổ căn phòng của Đức Thánh Cha, Ngài đã được đưa tới đó ngày
27 tháng ba vừa qua để ban phép lành long trọng nhân lễ Phục Sinh
cho Giáo Hội và thế giới, nhưng Ngài không thể thốt lên lời nào
được.
Bài thuyết
giảng của Đức Hồng Y Ratzinger đã bị đứt khoảng mười ba lần vì những
tràng pháo tay nổ vang, một điều ít khi xảy ra trong những ngôi
thánh đường ở Hoa Kỳ, nhưng xảy ra rất thường ở Âu châu.
Thánh lễ càng
diễn tiến, mây đen trở nên dày đặc và mặt trời thỉnh thoảng biến
mất. Gió thổi lên và làm tung mái tóc bạc phơ của Đức Hồng Y.
Thánh lễ tiếp
tục, cộng đoàn trao nhau những cái bắt tay chúc bình an cho những
người ngồi bên cạnh: đó là phần lễ nghi do Công Đồng Vatican II đem
vào phụng vụ. Đến lúc rưóc lễ, ba trăm hai mươi linh mục tỏa
ra giữa dân chúng để trao ban Mình Thánh Chúa cho hằng trăm ngàn
người chờ đợi rước lễ
Trong Thánh Lễ
an táng của Đức Giáo Hoàng – cũng như thánh lễ an táng của bất kỳ
người Công Giáo nào, sau phần rước lễ là nghi thức “tán dương
cuối cùng và vĩnh biệt”.
Tuy nhiên,
không giống những thánh lễ an táng của hầu hết những người Công Giáo
khác, ở đây Kinh Cầu Các Thánh được hát lên lúc gần cuối lễ và nghi
thức cầu nguyện vĩnh biệt lần nầy được nối tiếp bởi những lời cầu
của Giáo Hội thành phố Roma là giáo phận của Đức Thánh Cha và bởi
những lời cầu nguyện của các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương bởi
những giám mục của họ đứng trước quan tài với lễ phục màu đỏ và vàng
hoặc trắng, đen hay đỏ tươi.
Kế đó, với trầm
hương và nước thánh, Đức Hồng Y Ratzinger đã làm phép
quan tài và ca đoàn hát lên: “Tôi tin Chúa đã phục sinh và đang
sống và một ngày kia tôi cũng sẽ sống lại với Ngài.” Tang lễ kết
thúc với cộng đoàn cùng hát: “Ước mong các thiên thần đưa đón cha
vào nước thiên đàng; ước mong khi cha đến nơi, các thánh tử đạo đón
tiếp cha và dẫn đưa cha đến đền thánh Giê-ru-sa-lem.”
Sau đó Đức Hồng
Y Ratzinger và Hồng Y Đoàn trở lại Vương Cung Thánh Đường Thánh
Phêrô, trong khi những vệ binh Thụy Sĩ khiêng quan tài Đức Thánh Cha
lên vai.
Khi lên đến
tầng cấp cao nhất trước Vương Cung Thánh Đường, họ quay quan tài lại
về phía dân chúng để mọi người được chiêm ngưỡng một lần cuối cùng
bằng những tràng pháo tay kéo dài. Rồi họ từ từ quay quan tài trở
lại tư thế cũ và biến dần trong Vương Cung Thánh Đường.
Giới trẻ vang
lên những tiếng “Gioan Phaolô! Gioan Phaolô!” bằng tiếng Ý
trong khi các chuông của Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô ngân lên
trầm buồn.
Nghi thức an táng
Đi theo quan
tài Đức Thánh Cha vào bên trong Vương Cung Thánh Đường Thánh Phê-rô
để dự buổi an táng là Đức Hồng Y Martinez Somalo, ba vị hồng
y thâm niên và những phụ tá thân cận nhất.
Đại diện những
cộng đoàn Kitô Giáo khác trong đoàn người đi theo quan tài Đức Thánh
Cha đến mộ phần là Đức Thượng Phụ Đại Kết Chính Thống Giáo
Bartholomew Constantinople, vị lãnh đạo tinh thần của Chính
Thống Giáo thế giới và Đức Tổng Giám Mục Rowan Williams
Canterbury, thủ lãnh Anh Giáo.
Trong khi đoàn
người đi theo quan tài tiến tới hầm mộ ở dưới Vương Cung Thánh Đường
Thánh Phêrô, ca đoàn hát Thánh Vịnh với điệp khúc “Ước gì Chúa
đón cha vào nước Thiên Đàng.”
Ở trong nhà
nguyện mà Đức Thánh Cha sẽ được chôn cất, một phó tế đã cầu xin Chúa
giải thoát linh hồn Ngài “khỏi những quyền lực của sự tối tăm,
xin tha thứ những tội lỗi của Ngài, chấp nhận những việc thiện mà
Ngài đã làm, xin ban cho Ngài sự bình an và cho phép Ngài được gia
nhập vào đoàn ngũ các Thánh”.
Tiếp theo, quan
tài được đưa vào hầm mộ dưới lòng Vương Cung Thánh Đường. Một số
hồng y danh dự đứng ngoài hầm mộ. Các vị lấy nón đỏ trên đầu ra để
tỏ dấu hiệu cung kính lần cuối cùng.
Tiến sĩ
Joaquin Navarro-Walls – phát ngôn viên của Tòa Thánh Vatican –
cho biết một cây thánh giá đơn sơ và một tấm bảng bằng đồng trên đó
có khắc tên Đức Thánh Cha được đặt lên đầu quan tài bằng gỗ bách
được đóng kín và đặt trong một quan tài khác cũng bằng gỗ có viền
kẽm. Sau cùng quan tài nầy cũng được đặt vào một quan tài bằng gỗ
khác và được đưa vào lòng đất.
Chính ngôi mộ
đó trước đây đã chôn cất thi hài Đức Thánh Cha Gioan XXIII
cho tới khi Ngài được phong Chân Phước. Từ đó quan tài của Ngài được
dời lên trên lòng Vương Cung Thánh Đường.
Tiến sĩ
Navarro-Valls cho biết thêm là Đức Thánh Cha Gioan Phaolồ Đệ Nhị
được chôn cất giữa hai phụ nữ duy nhất được chôn ở trong hầm dưới
Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô là Nữ Hoàng xứ Cyprus và
Nữ Hoàng Christina nước Thụy Điển ở thế kỷ thứ mười bảy.
“Hoàn
toàn im lặng!” Đức Hồng Y Roger Mahoney của
Tổng Giáo Phận Los Angeles đã nói với “Washington Post” như thế. “Khi
an táng Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị xong và ai nấy ra về hết
rồi, chúng tôi đã trở lại phòng thánh và cởi áo lễ ra, không ai nói
với nhau một lời, không một lời nào hết.
Đây là tang lễ
lớn nhất, đông nhất, của hai ngàn năm lịch sử Giáo Hội Công Giáo.
Lần trước, được coi đông người nhất, là tang lễ của Đức cố Giáo
Hoàng Phaolồ VI vào năm 1978. Năm đó, có 100 ngàn người tham
dự.
Tổng thống
Bush có lý, khi nói rằng tang lễ của Đức Thánh Cha Gioan Phaolồ
Đệ Nhị là một trong những biến cố ý nghĩa nhất trong sự nghiệp tổng
thống của ông. Một biến cố mà nhiều người sẽ ghi nhớ mãi mãi.
Trong khoảng
khắc, Vatican trở thành thủ đô của thế giới, trái tim của nhân loại.
Và những người bình thường đều thấy rằng mình vừa vĩnh biệt một vị
thánh. Thế giới sau này sẽ nhớ đến tang lễ Đức Thánh Cha Gioan
Phaolồ Đệ Nhị, một biến cố thực sự toàn cầu, được hai tỷ người
– tức một phần ba nhân loại – cùng trực tiếp theo dõi trên màn ảnh
truyền hình
Dù Đức Thánh
Cha Gioan Phaolô II đã ra đi, nhưng những sách của Ngài vẫn thuộc
loại bán chạy nhất. Từ đầu năm đến nay, “Atria Books”
đã tái bản lần thứ ba cuốn “Memory and Identity” (Ký Ức và
Căn Tính); và “Rise, Let Us Be on Our Way” (Đứng Dậy, Chúng
Ta Cùng Đi). Cuốn “Crossing the Threshold of Hope” (Bước Qua
Ngưỡng Cửa Hy Vọng) của nhà xuất bản Knopf biến mất
hoàn toàn trên thị trường sau khi tin Đức Thánh Cha qua đời được
loan báo.
Di chúc của Đức Thánh Cha
Không tích lũy
một chút của cải vật chất nào, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị
quan tâm nhiều nhất đến những vấn đề khác trong di chúc mà Ngài đã
viết trong những cuộc tĩnh tâm Mùa Chay kể từ năm 1971.
Trong những năm
đầu triều đại giáo hoàng, xem ra Ngài nghĩ tới việc được chôn cất ở
Ba Lan và gợi ý là hàng giáo phẩm nơi đó sẽ lo liệu. Tuy nhiên, càng
về sau, Ngài để cho Hồng Y Đoàn có quyền quyết đoán tối hậu.
Ngài đã ghi chú
là được chôn “dưới đất không” với một “tấm bia đơn giản”.
Di chúc đó được viết tay bằng tiếng Ba Lan rồi dịch ra tiếng Ý bởi
Tòa Thánh Vatican trước khi được phổ biến.
Vào đầu năm
1980, Ngài đã thổ lộ tâm trạng thất vọng đối với Đảng Cộng Sản Ba
Lan. Ngài đã ghi chú như sau: “Hành trình của Giáo Hội đã trở nên
khó khăn và đầy căng thẳng, đối với giáo dân cũng như giáo sĩ.”
Vào năm 1990,
Ngài cảm tạ Chúa là các chế độ Cộng Sản ở Đông Âu đã sụp đổ mau lẹ
mà không phải qua một trận chiến nguyên tử.
Sau cuộc ám sát
hụt năm 1981, Đức Thánh Cha đã viết là đời sống của Ngài tùy thuộc
vào Thiên Chúa: “Tôi hy vọng Ngài sẽ giúp đỡ tôi nhận biết tôi
phải tiếp tục trong công tác mục vụ nầy bao lâu. Tôi cầu xin Ngài
gọi tôi về khi chính Ngài muốn thế.”
Trong di chúc,
Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị đã yêu cầu vị thư ký riêng của
Ngài là Đức Tổng Giám Mục Stanislaw Dziwiz đốt hết những lời
ghi chép của Ngài và phân phát những vật dụng của Ngài. Hoa hồng thu
được từ những quyển sách Ngài viết đã được chỉ định cho những cơ
quan từ thiện.
Ngài đã kết
thúc di chúc của Ngài bằng những dòng chữ sau đây:
“Trong khi
phần cuối cuộc đời dương thế của tôi đang tới gần, với ký ức buổi
ban đầu, tôi hướng về cha mẹ, người anh và người chị của tôi (mà tôi
không được biết vì chị đã qua đời trước
khi tôi sinh ra), với giáo xứ Wadowice mà tôi đã được nhận lãnh Bí
Tích Thánh Tẩy, thành phố thân yêu của tôi, những người thân
thuộc, bạn bè từ thời mẫu giáo, trung học, đại học, cho tới thời
gian bị chiếm đóng, khi tôi là một công nhân.
Và rồi giáo
xứ Niegowice và giáo xứ Thánh Florian ở Krakow, công tác mục vụ ở
đại học, mọi môi trường…Krakow và Roma…những người mà bằng một cách
đặc biệt được Chúa giao phó cho tôi. Với tất cả, tôi muôn nói lên
một điều: Xin Chúa trả công cho quý bạn!”
Câu cuối cùng
của di chúc, bằng tiếng Latinh: “In manus tuas, Domine, commendo
spiritum meum” – với ý nghĩa như sau: “Trong tay Ngài, lạy
Thiên Chúa, con xin phó thác thần trí của con.”
Ba Lan than khóc
Không nơi nào
mà sự ra đi của Đức Thánh Cha đã có một tác động mãnh liệt như ở Ba
Lan, quê hương của Ngài. Tổng thống Aleksander Kwasniewski
ra lệnh treo cờ rũ và những Thánh Lễ đặc biệt lôi cuốn từng ngàn
người ngay trước khi Đức Thánh Cha được an táng.
Một ngày trước
lễ an táng, tức thứ năm ngày 7 tháng 4, gần một triệu người
đã tụ họp ở Blonie Meadow ở Krakow, nơi mà Đức Thánh Cha Gioan
Phaolô Đệ Nhị thường dâng Thánh Lễ khi Ngài trở lại thành phố mà
Ngài đã làm giám mục, tổng giám mục và hồng y trong gần hai mươi
năm.
Một số tám
trăm ngàn người khác đứng xem lễ an táng trên những màn ảnh lớn.
Dân chúng hát theo những bài thánh ca quen thuộc được phát thanh.
Nhiều người tham dự thuộc thành phần giới trẻ mà Đức Thánh Cha đã ra
sức đem họ trở về và nhiều người trong đám đó mang áo trắng hay băng
trắng để vinh danh Ngài.
Hằng trăm ngàn
người Ba Lan khác tụ tập ở Công Trường Warsaw’s Pilsudski để
canh thức, trong khi cuộc sống công cộng ở thủ đô và bất cứ ở nơi
nào khác trên đất nước Ba Lan đều khựng lại. Các hãng xưởng, tiệm
buôn và học đường ở nơi thủ đô cổ kính Warsaw đều đóng cửa.
Ở bên ngoài
thánh đường bà Thánh Anna, một biển hoa cùng những đèn cầy đã tràn
ngập các đường sá. Sau Thánh Lễ an táng, pháo binh Ba Lan đã bắn hai
mươi sáu phát sung đại bác, mỗi phát tượng trưng cho một năm của
triều đại Ngài.
Người Công Giáo
và Do Thái Giáo gặp nhau ở nguyện đường duy nhất của Do Thái tại
Warsaw để khóc thương một nhân vật vĩ đại đã làm rất nhiều ngõ
hầu đem hai tôn giáo xích lại gần nhau. Ở Wadowice là thành
phố nhỏ mà Ngài Karol Wojtyla sinh ra năm 1920, khoảng mười lăm ngàn
người tập họp ngoài thánh đường mà Ngài đã được rửa tội.
Người Ba Lan
không giới hạn việc than khóc ở trong nước mà thôi. Hàng ngàn người
đã sang Roma để tham dự Thánh lễ. Những chuyến xe lửa đặc biệt đã
rời Warsaw tối thứ tư với hành trình hơn ba mươi tiếng đồng hồ để
đến ga Ostia ở ngoại ô kinh thành muôn thuở mà họ chỉ đến được vào
nửa đêm thứ năm.
Hàng chục người
chen chúc nhau trong các toa xe lửa mà không còn một chỗ trống. Khi
xe lửa đi qua Czestochowa, nơi có Thánh tượng Đức Mẹ Đen mà
Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị đã rất tha thiết, ấp ủ trong lòng,
những người trẻ đã hát kinh “Lạy Cha” và kinh “Kính Mừng”.
Một sinh viên
Ba Lan đã tóm lược cảm tưởng của nhiều người, khi anh ta nói với ký
giả Christophe Chatelot của tạp chí “Le Monde” là nhóm của
anh cảm thấy vừa vui vừa buồn. Có thể Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ
Nhị không hiện diện trong con tim mỗi người Ba Lan, “nhưng tất
cả chúng tôi đều buồn vì đã mất đi một nhân vật vĩ đại như Ngài”,
anh nói.
Tiếng vọng
từ Trung Hoa Lục Địa
Khi tin tức về
sự ra đi của Đức Thánh Cha được loan báo, nhà cầm quyền Cộng Sản Hoa
Lục đã huy động các lực lượng an ninh chìm nổi theo dõi ngày đêm các
cộng đoàn Công Giáo Thầm Lặng.
Về phía
Giáo Hội Yêu Nước của chính phủ, ban đầu nhiều linh mục còn
dè dặt. Tại một nhà thờ trong khu vực thương xá Wangfujing, gần
Thiên An Môn, cha sở chỉ cho dán một thông cáo ở ngoài cửa nhà
thờ để cộng đoàn xúm nhau đọc, ai muốn hiểu sao thì hiểu, cha sở
không dám bình luận thêm. Nhưng đó chỉ là số ít không đáng kể.
Ngay tại Vương
Cung Thánh Đường phía nam thủ đô Bắc Kinh trong khu Xuan Wu
Men là nhà thờ lớn nhất tại thủ đô Bắc Kinh, vào sáng Chúa Nhật ngày
3 tháng 4, cha Sun Shangen đã thông báo việc Đức Thánh Cha qua đời
với cộng đoàn như sau: “Thiên Chúa đã gọi Ngài về yên nghỉ trong
vòng tay từ ái. Ngày hôm nay chúng ta hãy nghĩ đến Ngài trong những
ý nguyện của mình. Chúng ta hãy cầu xin ơn Chúa cho Ngài sớm hưởng
phước Thiên Đàng.”
Cha Sun Shangen
công khai nhắc lại ước mơ chưa tròn của Đức Thánh Cha là viếng thăm
hai nước Á châu: Trung Hoa và Việt Nam. Đồng thời cha bày tỏ
tình hiệp thông hoàn toàn với Tòa Thánh.
Tại các nhà thờ
khác trực thuộc Giáo Hội Yêu Nước được chính phủ nhìn nhận, các linh
mục công khai tán dương công đức của Đức Thánh Cha và không ngần
ngại nhắc đến biến cố các chế độ Cộng Sản bị sụp đổ tại Đông Âu.
Các linh mục
công khai bày tỏ sự hiệp thông với Tòa Thánh và tổ chức các buổi cầu
nguyện hết sức trọng thể. Các linh mục cũng nhấn mạnh nhiều lần đến
hai chữ “Đừng Sợ!” mà Đức Thánh Cha thường hay
nhắc nhở.
Đối với
Giáo Hội Thầm Lặng, nhà nước Trung Quốc một mặt cảnh cáo
công khai, một mặt theo dõi ngày đêm.
Tại tỉnh Hà
Bắc, nơi tập trung đông đảo dân Công Giáo, công an ập đến nhà
Đức Cha Giuliô Jia Zhiguo. Họ không bắt ngài vì tình trạng sức khỏe
của ngài quá thê thảm. Đức Cha chỉ được phép dâng Thánh Lễ cầu hồn
cho Đức Thánh Cha tại nhà nguyện riêng với hai người giúp lễ mà
thôi, ngoài ra không ai khác được phép tham dự lễ cầu hồn hết.
Cũng thế, Đức
Cha Giuse Zhang Weizhu của Xianxian cũng bị công an canh
chừng nghiêm nhặt.
Tuy nhiên, bằng
cách nào đó, các linh mục và giáo dân vẫn có thể làm lễ chui để cầu
nguyện cho Đức Thánh Cha. Một giáo dân cho phóng viên UCAN biết là
các tín hữu tại đây đã để hình Đức Thánh Cha ở chính giữa bàn thờ: “Chúng
tôi cảm thấy an ủi vì trong Thánh Lễ cha sở đọc những bản tin
cho biết trước khi qua đời Đức Thánh Cha trối lại đừng khóc và hãy
vui vẻ.”
Tại giáo phận
Tianjin, Đức Cha Stêphanô Li Side cũng bị canh gác ngày đêm.
Cả Đức Cha phụ tá Melchior Shi Hongzhen cũng bị canh chừng.
Tại giáo phận
Wenzhou, năm ngàn người Công Giáo thầm lặng đã tham dự Thánh
Lễ cầu nguyện cho Đức Thánh Cha, nhưng phải chia thành nhiều lễ, mỗi
lễ chỉ vài trăm người.
Tại giáo phận
Fuzhou, cách 1630 cây số về phía đông nam Bắc Kinh, một nữ tu
cho biết: “Nhiều người trong chính quyền địa phương nói họ cũng
có cảm tình với Đức Thánh Cha nên muốn làm gì thì làm.”
Phản ứng từ
phía Nga Sô
Cảm tình đối
với Công Giáo của người Nga gia tăng đáng kể trong vòng 5 năm qua
theo một cuộc nghiên cứu vừa được công bố.
Cuộc nghiên cứu
do cơ quan “Obshczestvennoe mnenie” (Ý kiến công chúng)
cho thấy 30% dân Nga bày tỏ cảm tình đối với Công Giáo. Con số này
gia tăng đáng kể so với cuộc nghiên cứu được thực hiện vào năm 2000
vì vào năm đó, chỉ có 16% dân Nga bày tỏ cảm tình với Công Giáo.
Cuộc nghiên cứu
cũng cho thấy số người Nga “không ưa” Công Giáo đã giảm từ 9% xuống
còn 5% trong vòng 5 năm qua.
Cơ quan “Obshczestvennoe
mnenie” cũng cho biết một con số đáng kể là đến 77% dân Nga đã
theo dõi buổi trực tiếp truyền hình thánh lễ an táng Đức Thánh Cha
Gioan Phaolô Đệ Nhị hôm 8/4/2005. Hơn 46% người được hỏi nhận định
rằng cái chết của Đức Thánh Cha là một mất mát lớn lao cho thế giới.
Cuộc điều tra
đã phỏng vấn 1500 người cư ngụ trên 100 thành phố và làng mạc cho
thấy dù Tòa Thượng Phụ Chính Thống Giáo Nga thường có những lời lẽ
không đẹp đối với Công Giáo và cá nhân Đức Thánh Cha Gioan Phaolồ Đệ
Nhị, nhưng Ngài có một ảnh hưởng sâu đậm đối với người tín hữu Nga,
và khơi dậy cảm tình của họ đối với Giáo Hội Công Giáo.
CHẾT MỚI NÓI NÊN LỜI
TƯỞNG NIỆM
ĐỨC THÁNH CHA GIOAN PHAOLÔ II
BĂNG HÀ NGÀY
02-04-2005
Lạy Cha
Gioan Phao-lồ Đệ Nhị!
Hai mươi sáu
năm ngôi vị giáo hoàng
trĩu nặng
trên đôi vai Cha.
Giờ Chúa cho
Cha
thanh thản
cất bước ra đi,
trong tiếc
thương của toàn dân Chúa
và của cộng
đồng nhân loại.
Lời Cha đã
ban ra
hai mươi sáu
năm về trước,
tại Quảng
Trường Thánh Phê-rô
trong đại Lễ
Đăng Quang:
“Các con
đừng sợ!”
Lời đó như
sấm ran
dội khắp năm
châu bốn biển,
xuyên thấu
tâm can mọi người thiện chí
và lay
chuyển những thành trì kiên cố,
xây đắp bởi
những ý thức hệ bất nhân,
tạo nên
những chế độ thù nghịch đối đầu,
suốt chiều
dài thế kỷ hai mươi.
Lạy Cha!
Bể dâu còn
đó!
Những tang
thương đổ vỡ còn tiếp diễn
từ đông sang
tây,
từ bắc chí
nam,
từ sâu thẳm
nội tâm con người
cho đến
ngoại cảnh nhân thế.
Cha ơi!
Những lời
kêu vang trầm thống của Cha
hơn một phần
tư thế kỷ qua,
không được
nhân loại đón nhận,
với con tim
rộng mở,
để
“tiếp nhận Chúa Kitô”,
vì ít người
quan tâm
đối với
những lời Cha ban tặng.
Văn minh sự
chết vẫn tràn lan.
Đó là những
cơn sóng thần lớn nhỏ,
Xua đuổi nền
văn minh sự sống
lùi vào bóng
tối của “đêm trường
thời gian” (1),
khiến sự yêu
thương nhường chỗ cho hận thù,
chiến tranh
được cổ võ,
khủng bố
được khuyến khích
ngay trên
những phần đất còn sót lại
mang chút
dấu ấn hòa bình!
Cha đã cất
bước lữ hành,
tính bằng
nhiều vòng trái đất,
để
van xin mà không biết mỏi mệt:
Hãy
“lấy tình thương xóa bỏ hận thù”,
tay nắm tay
xây dựng hòa bình
trong tinh
thần “tứ hải giai
huynh đệ!”
Cha đã đi
tìm giới trẻ
của triệu
triệu mầm non thế hệ,
từ Âu sang
Á,
từ Phi châu
sang Mỹ châu,
để gieo mầm
mống đức tin và hy vọng,
trong những
tâm hồn non trẻ
là tương lai
huy hoàng của Giáo Hội
và của thế
giới ngày mai.
Cha đã đau
buồn
chứng kiến
bao cảnh não lòng
của một số
rất nhỏ
những mục tử
Giáo Hội Cha
đã vấp ngã
trên hành trình dâng hiến
làm dịp cho
kẻ gian ác
lớn tiếng
bôi nhọ thanh danh Giáo Hội
và bôi bác
những giá
trị đạo đức ngàn đời.
Nhưng Cha
cũng rất vui
vì những hoa
trái Giáo Hội gặt hái được
qua giòng
lịch sử,
với những
gương hy sinh vô bờ bến
của triệu
triệu chứng nhân giữa giòng đời,
những giáo
sĩ, tu sĩ lẫn giáo dân,
trong quá
khứ cũng như hiện tại và tương lai,
đã hy sinh
cuộc đời cho công lý và tình thương,
ngay cả lấy
máu đào minh chứng đức tin.
Cha đã yêu
thương Giáo Hội
và
“yêu thương cho đến hơi thở cuối cùng!” (2)
Để đáp trả
tình yêu đó,
con cái Cha
từng đoàn lũ lượt,
từ nhiều nơi
trên thế giới,
với triệu
triệu người sát cánh bên nhau,
tuôn về kinh
thành muôn thuở,
đợi chờ cả
ngày lẫn đêm,
để tôn kính
chiêm ngưỡng dung nhan Cha lần cuối,
dù chỉ trong
một vài phút giây ngắn ngủi!
Khắp nơi
trên thế giới,
con cái Cha,
cũng như
những người thành tâm thiện chí,
qua mạng
truyền hình
hay những
kênh truyền thông,
đã tôn kính
theo dõi tang lễ của Cha
để cùng hiệp
thông tỏ tình quý mến
và cùng nhau
tiễn biệt Cha
về nơi an
nghỉ vĩnh hằng
trên Thiên
Quốc!
Ngày Cha nằm
xuống,
thế giới đã
nắm chặt tay nhau,
dù trong
thời gian vắn vỏi.
Những thủ
lãnh thù nghịch
có cơ hội
ngồi bên nhau
trao đổi đôi
lời giao tế
hoặc những
cái bắt tay lịch sự
trong tang
lễ của Cha.
Lạy Cha!
Hai mươi sáu
năm rao giảng sứ điệp
của Tin Mừng
yêu thương và tha thứ,
khắp năm
châu bốn biển.
Nhưng tiếng
Cha chỉ đồng vọng
trong tâm
hồn tỷ tỷ người nghe
khi Cha nằm
xuống,
khi mọi ngôn
từ đều im bặt!
Cha ơi!
KHI
CHẾT CHA MỚI NÓI NÊN LỜI!
Lời của vô
thanh
như
“tiếng vỗ của một bàn tay!” (3)
như tiếng
thì thầm của vũ trụ,
“như tiếng
chim ca” (4)
“như lời mẹ
đong đưa” (5) ru con ngủ.
Đó là dư âm
của Lời Chúa
Cha nói với Chúa Con:
“Hôm nay
Cha đã sinh ra Con!”
(6)
để rồi Cha
cũng như tất cả chúng con
được trở nên
nghĩa tử của Cha trên trời
và sung
sướng kêu lên:
“Abba!
Cha ơi!” (7)
Lạy Cha
Gioan Phao-lồ Đệ Nhị!
Thời điểm
Cha nhắm mắt
là khởi đầu
cuộc sống trường sinh,
là lễ Phục
Sinh của Cha,
là lễ Hiện
Xuống Mới của Giáo hội
và của mỗi
người trong chúng con,
vì sứ điệp
của Cha chỉ vang vọng
trong tâm
hồn nhân thế
khi Cha im
bặt không còn cất tiếng nói!
Đó chính là
lúc Thánh Thần của Chúa
“đổ tràn
xuống trên đầu chúng con
là
những con trai con gái” (8),
để chúng con
ra đi loan báo Tin Mừng
về cuộc Phục
Sinh của Chúa,
của Cha và
của Giáo Hội trần thế,
trên bước
đường lữ hành,
cho đến tận
cùng trái đất,
cho đến thời
cánh chung,
vào khi
“thế mạt” (9),
khi Chúa
Kitô vinh quang trở lại!
Amen!
GHI CHÚ
(1)
La nuit
des temps
(2)
Phúc Âm
Thánh Gioan:
“Người vẫn
yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian và Người yêu
thương họ đến cùng.” (Gio13, 1)
(3)
Công án
thiền
(4)
Anthony
de Mello:
“Chim ca
không phải công bố điều gì, nhưng vì có một bài ca”
(5)
Bài hát
Trịnh Công Sơn
(6)
Bài ca
nhập lễ Đêm Giáng Sinh:
Dominus
dixit ad me:“Filius meus es tu. Hodie genui te!”
(Chúa Trời nói
với tôi: “Con là Con Cha. Hôm nay Cha đã sinh ra Con!”)
(7)
Thánh
Phaolồ:
“…Thần Khí
làm cho “anh em nên nghĩa tử, nhờ đó chúng ta được kêu lên: Abba!
Cha ơi!” (Rm 8, 15)
(8)
Thánh
Kinh:
“Ta sẽ đổ
Thần Trí ta trên các loài xác thịt; con trai và con gái các ngươi sẽ
nói tiên tri.” Gio-en 2, 28).
“Ta sẽ là
Cha các ngươi và các ngươi sẽ là con trai, con gái của Ta. Chúa toàn
năng phán như vậy.” (2 Cr 6, 18)
(9)
La fin
des temps
|