|
NHÂN LOẠI VẪN CẦN…
SUY NIỆM NHÂN LỄ CHÚA CHIÊN LÀNH
Ngày ấy, khi lớp chúng tôi có gần một nửa lớp chịu chức linh mục,
linh mục Nguyễn Duy, (lúc đó cũng đang là chủng sinh, dù thuộc lớp
đàn anh, nhưng được phân bổ vào lớp chúng tôi để hợp thức hóa và bổ
túc chương trình học), đã cảm tác bài hát “Nhân loại vẫn cần” để
tặng cả lớp.
Bài hát ấy, tôi vẫn nhớ, vẫn hát. Mỗi lúc nhớ thầy, nhớ trường, nhớ
bạn, hoặc mệt mỏi vì rong ruổi trong suốt dọc dài con đường phục vụ,
tôi đã nhiều lần hát đi hát lại, để vừa cầu nguyện cho mình, cho
thầy, cho anh em, cho sứ vụ của từng người trong lớp chúng tôi, cho
cả những gương mặt thân yêu của cộng đoàn mà mình sống và làm việc
hôm nay, vừa tìm cách củng cố sức lực do năm tháng đã không ít hao
mòn.
Đối với riêng tôi, bài hát ấy hay, nó gợi lại trong tôi cả khung
trời kỷ niệm, đồng thời giúp tôi hiên ngang nhìn về phía trước mà
thực hiện chính sứ mạng của Chúa Kitô, được Chúa Kitô trao cho mình…
Cứ thế, mà tôi hát: “Nhân loại vẫn cần người biết sống ơn gọi của
Chúa. Nhân loại vẫn cần người làm chứng tình Chúa yêu thương. Nhân
loại vẫn cần người mục tử dẫn đường chỉ lối, cùng đoàn chiên đêm
ngày đi tới, về nhà Cha mến yêu muôn đời…Nhân loại vẫn cần người đi
tiếp con đường của Chúa. Nhân loại vẫn cần người dám sống cuộc sống
Giêsu. Nhân loại vẫn cần người nhiệt tâm trong đời ngôn sứ, chỉ
truyền rao những lời của Chúa để trần gian sống trong sự thật…Nên
Chúa đã sai từng người chúng con, những linh mục bước đến cùng thế
giới. để đáp ứng những khát vọng khắp nơi. Để tô thắm những ước mơ
con người. Nghe tiếng Chúa nay từng người chúng con quyết lên đường
loan Tin Mừng Cứu Rỗi. Xin Chúa giúp cho mỗi người chúng con được
nên thánh trong cuộc đời chứng nhân…”.
Trong những ngày này, chuẩn bị mừng lễ Chúa Chiên lành, ngày Hội
Thánh cầu nguyện và cổ võ cách đặt biệt đối với ơn gọi tận hiến, tôi
càng ý thức hơn vai trò và trách nhiệm mục tử của mình. Sau mỗi
thánh lễ sáng xong, tôi đóng cửa phòng rồi cứ thế mà cất lên cung
điệu Nhân loại vẫn cần… để cầu nguyện, để tạ ơn Chúa, để đánh thức
mình hãy nên mục tử nhân lành.
Sau bài hát, tôi lại đọc đi đọc lại bài Tin Mừng theo thánh Gioan để
nguyện gẫm: “Chúa Giêsu nói với người Dothái rằng: ‘Chiên của
tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi ban
cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và
không ai cướp chúng khỏi tay tôi. Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho
tôi, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa
Cha. Tôi và Chúa Cha là một” (Ga 10, 27-30). Ước mong một
điều chính đáng rằng, ngày nào tôi còn thi hành chức vụ mục tử, và
Hội Thánh còn tiếp tục tin tưởng trao cho tôi sứ mạng mục tử, ngày
ấy, tôi vẫn cứ xông vào trận chiến với thế gian, với tội lỗi và với
mọi cơn cám dỗ trong đời một cách không mệt mỏi để làm cho từng con
chiên của Chúa Kitô thực sự yêu mến Chúa Kitô, nghe Lời Chúa Kitô.
Nhờ đó họ không bị diệt vong, không bị bất cứ thế lực nào của sự dữ
cướp khỏi ơn cứu chuộc của Chúa Kitô và lãnh nhận sự sống đời đời mà
Chúa Kitô ban cho họ.
Để hoàn thành xuất sắc vai trò mục tử như Mục Tử Giêsu, một hình ảnh
mục tử mà mãi mãi nhân loại vẫn cần, vẫn tha thiết trông chờ, vẫn
hoài hy vọng, tôi nghiệm ra rằng, trước hết mình phải là chiên xuất
sắc của Mục Tử Giêsu. Một khi đã là chiên tốt, chắc chắn, tôi cũng
sẽ là mục tử tốt như Chúa Giêsu.
1. Cùng anh chị em, linh mục là thành phần của đoàn chiên Chúa.
Trước khi là mục tử, người linh mục đã thuộc về đàn chiên. Biết mình
là chiên, cũng mang thân phận con người đầy khiếm khuyết, có khi đã
nhiều lần, do chủ quan, do mải ngụp lặn trong biển đời nhiều sóng
dữ, đã để xảy ra nhiều thương tật cho đời sống tâm linh của bản
thân.
Biết mình là chiên như mọi con chiên trong đoàn chiên của Chúa,
người linh mục luôn luôn học lấy lòng khiêm nhường, hiền từ như Mục
Tử Giêsu. Cùng là người như mọi anh chị em của mình, người linh mục
không bao giờ được phép coi thường những điều kiện căn bản để vươn
lên trong ơn thánh Chúa như: cầu nguyện, nguyện gẫm, xét mình, đọc
Lời Chúa, viếng Thánh Thể, thường xuyên lãnh bí tích hòa giải…
Người linh mục càng phải ra sức cộng tác với ơn Chúa để sống một đời
sống gương mẫu, mực thước, tự chủ, biết sống lành mạnh, không xa
hoa, không tìm danh lợi, không mưu cầu cách ích kỷ sự giàu có cho
bản thân… nhưng luôn biết từ chối tất cả mọi nguy hiểm có thể đánh
đổi ơn gọi của mình là thứ quý giá trên hết mọi thứ quý giá.
Ngoài ra, dù là mục tử, người linh mục sẽ không ít lần bắt gặp những
mẫu gương rất tốt nơi anh chị em mà mình có thể học lấy. Chẳng hạn,
nhiều anh chị em quyết không bước vào con đường gian tham, tội lỗi,
dù rất nghèo. Hoặc nhiều người đau khổ đến cùng cực, nhưng đức tin
vẫn lung linh cháy sáng. Nhiều anh chị em tham gia phục vụ người
nghèo, phụ vụ nhà thờ, phục vụ cộng đoàn hết sức miệt mài, nhiệt tâm
y như việc họ làm là làm cho chính gia đình, cho chính bản thân của
họ vậy… Tất cả những hình ảnh ấy, càng làm cho người linh mục khám
phá ra một chân lý rất bình thường, nhưng rất đỗi quang trọng: Dù là
mục tử, người linh mục vẫn là thành phần của đoàn chiên Chúa. Nhận
ra mình cũng là chiên như anh chị em, người linh mục sẽ không bao
giờ dám coi chức linh mục của mình là quan chức, là hướng nhắm của
sự thành công, để khi đạt được rồi, sẽ hưởng thụ, tệ hơn, vơ vét mọi
thứ cho cá nhân mình…
Tắt một lời, khi biết rèn giũa cho hình ảnh “chiên” nơi mình càng
đẹp, càng sáng, thì khi làm mục tử, người linh mục cũng sẽ là mục tử
tốt lành mang lấy và phản chiếu hình ảnh tốt lành của Mục Tử Giêsu.
2. Là mục tử của đoàn chiên Chúa.
Rất nhiều lần, và ngay chính lúc này, tôi cảm nhận rõ ràng, thánh
chức linh mục mà Chúa ban cho mình quý giá vô cùng. Bởi nó là danh
dự, là sự điểm tô lộng lẫy cho chính người linh mục đã vậy, quan
trọng hơn, nó chính là sự cần thiết của đời sống tâm linh con người.
Chức linh mục vẽ thêm vào cuộc đời, vốn vàng thao lẫn lộn, những nét
tươi mới của tin yêu, của niềm an úi, của hy vọng. Bởi không có ai
khác nhưng linh mục, đã gắn bó với từng anh chị em mà Hội Thánh trao
cho mình, gắn bó suốt đời mình để phục vụ, để hiến thân.
Chính linh mục mới là người biết rõ, biết nhiều về tâm tư con người.
Cả trong tòa giải tội, lẫn ngoài đời thường, không biết bao nhiêu
lần người linh mục chia sẻ những tâm tư, những bức xúc, những bí mật
rất thật về chính bản thân của anh chị em. Dường như chỉ có linh mục
mới có thể giải tỏa nhiều chông chênh, ngang trái mà anh chị em gặp
phải trong một lòng thương mến thật, thông cảm thật. Anh chị em đến
với linh mục bằng một niềm tin tưởng thật, vì thế họ cũng sẽ nhận
được từ người linh mục một trái tim rung cảm thật, nhằm tiếp thêm
ngọn lửa của sức mạnh chịu đựng, tiếp thêm sức nóng xóa tan băng giá
của cả một đời đầy dông bão.
Vì trót cả cuộc đời của những người mang lấy đức tin, là cả cuộc đời
mang dấu ấn của thánh chức linh mục. Bởi không ai khác, nhưng là
chính bàn tay linh mục, trong bí tích rửa tội, đã đưa một con người
từ thưở bé thơ vào cộng đoàn Hội Thánh để làm Con Thiên Chúa. Dù
trong anh chị em, có người không nhìn nhận, thậm chí chống đối cá
nhân linh mục này, linh mục khác, thì anh chị em cũng không thể chối
từ ảnh hưởng của thánh chức linh mục trên cuộc đời mình. Chỉ nhờ
linh mục, anh chị em được lãnh nhận ân sủng từ kho tàng bí tích mà
Chúa trao cho Hội Thánh. Những khi anh chị em muốn tìm lại bình an
nội tâm sau những lần ngã quỵ vì cám dỗ, vì tội lỗi, cũng chính linh
mục nhân danh Chúa ban ơn Thánh Thần tha thứ cho anh chị em. Đến
tuổi trưởng thành, cũng nhờ chính bàn tay linh mục, mà mỗi một người
chính thức bước vào đời sống gia đình cách hợp pháp. Có thể nói,
trong bí tích hôn phối, người linh mục đã liên tục sinh ra các gia
đình mới cho Hội Thánh. Hay suốt cả một đời làm Kitô hữu của mình,
từng anh chi em đã không thể đếm hết bao nhiêu lần đã cậy nhờ thánh
chức linh mục, và chính bản thân người linh mục mà lãnh nhận hết
hồng ân này đến hồng ân khác, hết hy tế thánh lễ này đến hy tế thánh
lễ khác, hết lời giảng dạy này đến lời giảng dạy khác… Và giây phút
quan trọng nhất, nhưng cũng kinh hoàng nhất, đáng sợ nhất của đời
người là giây phút sắp lìa đời, thì sự hiện diện lần cuối cùng của
linh mục lại ấm áp, thiêng liêng, ý nghĩa vô cùng. Nó mang lại niềm
an ủi, mang lại sự xoa dịu nỗi sợ hãi, xoa dịu cơn đau đớn không thể
tả để anh chị em thanh thản lìa đời. Và cuối cùng, cũng chính bàn
tay linh mục đưa lên ban phép lành lần cuối thay lời từ biệt trao
gởi anh chị em về với Đấng Hằng Hữu, Đấng mà từ đó, đã làm phát sinh
sự sống của không biết bao nhiêu sinh linh trong cõi đời này.
Như vậy, linh mục rất cần vai trò làm chiên cùng với đoàn chiên của
Chúa. Làm con chiên như anh chị em, người linh mục sẽ hiểu nhiều
hơn, sẽ dễ thông cảm hơn với từng mảnh đời, từng hoàn cảnh của anh
chị em. Là chiên của Chúa, thấu hiểu nỗi lòng của đoàn chiên, để khi
đứng trong vai trò mục tử, người linh mục sẽ dẫn đưa anh chị em của
mình đến sự sống, một sự sống hoàn thiện, sự sống dồi dào…
Đúng là nhân loại vẫn cần, mãi mãi cần những mục tử của Chúa, những
mục tử thay thế Chúa săng sóc đoàn chiên Chúa. Nhân loại vẫn cần
những con người dám hiến thân vì người khác giữa cuộc đời mênh mông
và biến động. Nhân loại cần lắm những bàn tay nâng đỡ lòng người,
cần lắm những con người luôn luôn thao thức vì hạnh phúc của loài
người, cần lắm những bóng mát làm dịu cơn khát tình yêu, xua đi nỗi
buồn chán, lấp đầy những khoảng trống cô đơn của con người. Nhân
loại vẫn cần vô cùng những tấm lòng từ ái, những con người của ơn
hòa bình, những dấu chỉ của niềm hy vọng, những hiện thân của hạnh
phúc trường cửu, mà chính người mục tử ghi dấu, để mỗi anh chị em
luôn cảm nhận tình yêu, luôn tìm ra một chỗ dựa mỗi khi cần, luôn
thấy mình được an ủi vỗ về khi đau đớn…
Nhân loại vẫn cần, cần lắm những linh mục thánh thiện, những linh
mục nhân lành. Bởi họ chính là những mục tử như lòng mong ước…
Lm. VŨ XUÂN HẠNH
|