|
Hoá giải những cơn cám dỗ
Chúa
nhật 1 Mùa Chay C (Lc 4,1-13)
Chúng ta đang cùng đồng hành với Chúa Giêsu sau khi từ sông Giođan
trở về để được Thánh Thần dẫn đưa vào hoang địa 40 đêm ngày để chịu
cám dỗ của ma quỷ. Tại đây, khi Người đã thấm mệt và đói thì cũng
chính là lúc ma quỷ “tung cú chưởng” nặng chùy hơn nhằm hạ gục Chúa
bằng ba cơn cám dỗ đặc trưng, xảo quyệt và manh ma nhất của chúng.
Chúng ta dễ dàng nhận ra cơn cám dỗ đầu tiên mà ma quỷ đưa ra nhằm
lôi cuốn Chúa Giêsu vào cuộc là một cám dỗ rất thực tế, “rất nhân
sinh”, nó liên quan đến sự sống còn của con người, đó chính là vấn
đề ăn uống. Hẳn giống quỷ này phải thuộc giống tinh ranh mới có thể
đưa ra trò tinh quái này. Chưa hết, nếu theo dõi cả ba cơn cám dỗ,
chúng ta còn thấy đây là giống quỷ thuộc Kinh thánh làu làu cũng như
rất rành về lịch sử dân Dothái. Bằng chứng là hắn hoặc dòng giống
nhà hắn đã từng thành công trong việc cám dỗ dân tộc này trong 40
năm trường trong hoang địa, giờ đây hắn lại lấy chiêu bài cũ nhằm
lôi kéo người mà hắn dư biết là “Con Thiên Chúa”- lời Chúa Cha nói
với Chúa Giêsu khi Người chịu phép rửa, : “Nếu ông là Con Thiên
Chúa thì truyền cho hòn đá này hoá bánh đi!”. Có thể nói tính độc
đáo của văn chương Tin mừng chính là chỗ lần đầu tiên Chúa Giêsu
dùng Kinh thánh Cựu ước để phản lại chiêu bài của ma quỷ. Thật vậy,
không giống như dân Dothái xưa, khi gặp cơn đói khát giữa sa mạc cằn
khô, đã nhất quyết đả đảo Môsê, đả đảo Giavê Thiên Chúa, trách móc
Thiên Chúa sao lại đưa họ vào chỗ “khỉ ho cò gáy” thế này, để cho họ
chết dần chết mòn. Lần đó Thiên Chúa đã ra tay để cho dân có Manna
và chim cút đủ dùng. “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh”.
Trích từ sách Đệ nhị luật, Chúa Giêsu muốn nhắc lại giai đoạn lịch
sử này để cho ma quỷ biết chân lý này: rằng ở trên đời, chuyện cơm
áo gạo tiền không phải là cái đáng quý nhất. Lịch sử dân Dothái cũng
như bao thế hệ Kytô giáo đã minh chứng cho chân lý này. Sức mạnh của
con người chính ở chỗ tín thác vào Lời Chúa, vào tình yêu và sự quan
phòng của Thiên Chúa, chứ không phải chỉ quẩn quanh với cái bụng,
với cái bao tử ham ăn non nghĩ.
Với cơn cám dỗ thứ hai, ma quỷ mong muốn Chúa Giêsu suy nghĩ thật kỹ
để có thể chia sẻ quyền hành với nó nhằm thống trị thế gian này. Đây
chính là đòn cân não nguy hiểm nhất mà Chúa Giêsu gặp phải. Lý do là
vì nó không chỉ đơn thuần là quyền cao, chức trọng để có thể thống
lĩnh toàn bộ như ma quỷ đề nghị, mà chính ở chỗ, với chiêu thức này,
ma quỷ muốn khoét sâu vào mối quan hệ giữa Chúa Cha với Người nhằm
cắt đứt mối quan hệ Cha – Con, một mối tương quan bất khả phân. Hẳn
chúng ta còn nhớ trong lịch sử Dothái, hơn một lần giống quỷ này đã
thành công khi tách rời mối tương quan giữa Giavê Thiên Chúa với dân
Người khi dân chúng không muốn thờ lạy Giavê mà chỉ muốn thờ lạy con
bò vàng do chính tay mình tạo ra. Lần này, Chúa Giêsu đã chiến thắng
vì Người biết rằng quyền hành mà Người có không đến từ tay của những
kẻ cơ hội, những kẻ “đục nước thả câu” mà đến từ chính bàn tay của
Chúa Cha. Chính Chúa Cha mới là người nắm giữ toàn quyền thống trị
và trao ban những đặc ân này cho những ai tuân hành thánh ý Người.
Cơn cám dỗ sau cùng của Chúa Giêsu được kết thúc tại thành thánh
Giêrusalem. Đối với Luca, Giêrusalem được xem là nơi kết thúc sứ vụ
của Chúa Giêsu sau khi trải qua cuộc Thương Khó và cũng là nơi khởi
đầu cho sứ vụ rao giảng Tin mừng của các Tông đồ như được nói trong
sách Công vụ Tông đồ. Với cơn cám dỗ này, Luca còn muốn tiên báo một
cơn cám dỗ sau hết mà ma quỷ dành cho Chúa khốc liệt hơn, tinh quái
hơn khi nó dùng miệng của dân chúng, sỹ quan và nhất là tên gian phi
hô hào : “Ông không phải là Đấng Kytô sao? Hãy tự cứu mình đi, và
cứu cả chúng tôi nữa”. Với chiêu thức này, ma quỷ nghĩ rằng
chúng sẽ thành công, bởi vì lời lẽ trong Thánh vịnh 90 mà chúng
trích dẫn không nói về Đấng Mêsia mà nói về bất cứ người Dothái nào
tín trung, tuân giữ lệnh truyền của Giavê Thiên Chúa, vì thế họ luôn
luôn nhận được sự trợ giúp đến từ Giavê Thiên Chúa. Không những thế,
hẳn ma quỷ còn biết sự thật lịch sử đã từng xảy ra trong dân Dothái,
khi dân trải qua những ngày tháng sống không có nước uống. Lần đó,
ngay tại Rơphiđim mà sau này ông Môsê đặt tên là Maxa và Mơriva, dân
chúng đã ta thán, gây sự với ông Môsê nhằm thách thức Giavê Thiên
Chúa để thử xem có thật Giavê ở giữa họ hay không. Dân chúng đã thử
thách Giavê Thiên Chúa, bắt Người thực hiện điều họ muốn (x. Xh
17,1-7). “Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi”.
Chúa Giêsu không rơi vào cạm bẫy của ma quỷ bởi vì Người hiểu
rằng, tin vào Thiên Chúa không có nghĩa là bắt Thiên Chúa biểu diễn
ma thuật, làm những điều kinh thiên động địa mà chính là niềm tín
thác cậy trông. Hơn thế nữa, Chúa Giêsu còn biết rằng, là Con, Người
không có quyền thử thách Cha mình, tất cả đều do Cha an bài, định
liệu. Thử thách Cha, bắt Cha làm theo ý mình, là phản bội, là quay
lưng lại với tình yêu của Người.
Những cạm bẫy mà Chúa Giêsu chịu hôm
nay cũng chính là những cạm bẫy mà chúng ta sẽ gặp phải trên đường
đời. Chúa Giêsu đã chiến thắng những cạm bẫy của ma quỷ không nhờ
vào sức riêng mình mà chính do niềm tín thác trọn vẹn trong tình yêu
Thiên Chúa là Cha Người. Xin cho mỗi người chúng ta cũng biết lấy đó
làm thước đo, làm kim chỉ nam cho cuộc sống ngõ hầu trong bất cứ
hoàn cảnh nào, chúng ta cũng có thể hoá giải tất cả những cạm bẫy mà
ma quỷ giăng ra hòng lôi kéo chúng ta xa rời tình thân với Thiên
Chúa.
Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb
|