|
Khi “lũ chó con” được đồng bàn với chủ…
Chúa
nhật 20 thường niên A (Mt 15 21-28)
Thời Chúa Giêsu, Tia và Xiđon- ngày nay là miền nam Libăng, được xem
là miền đất dân ngoại. Vì thế, việc Chúa Giêsu và các môn đệ lui về
đây không chỉ để tránh tai mắt của nhóm Biệt phái hay tránh sự cuồng
nhiệt của dân chúng muốn tôn Ngài làm vua ngay sau sự kiện hoá bánh
ra nhiều (x. Ga 6, 15), mà còn mang một ý nghĩa thần học theo dụng ý
của tác giả Mátthêu. Theo đó, ơn cứu độ lẽ ra chỉ dành cho Israel,
nhưng vì họ từ chối, thì nay ơn cứu độ đó được mang đến cho dân ngoại
mà người phụ nữ Canaan là một đại diện.
Nói đến Canaan, không người Dothái nào lại không biết đến mảnh đất mà
cha ông họ đã chiếm làm lãnh thổ cho riêng mình. Miền đất này được
xem là miền đất hứa, miền đất của sữa và mật, vì thế, để chiếm được
nó, người Dothái phải đổ không ít xương máu mới có được. Chính vì thế,
nói đến miền đất Canaan và con người Canaan là không chỉ nói về một
chiến tích, nói về một thời hào hùng của dân tộc mà còn nói đến một
mối thù “truyền kiếp” giữa hai dân tộc. Người Dothái vốn xem người
Canaan là dân ngoại, là những kẻ dơ bẩn cần phải tránh xa bao có thể.
Sự khinh thường này đôi khi thái quá và làm cho hố ngăn cách ngày
càng thêm sâu đậm khó có thể hoà giải một sớm một chiều. Sự kiện
người phụ nữ Canaan đến gặp Chúa Giêsu và các môn đệ cũng không nằm
ngoài hố ngăn cách này.
Trước khi đến gặp Chúa Giêsu, chắc hẳn người phụ nữ Canaan đã lường
trước những thách đố mà mình sẽ gặp khi “chạm trán” với những người
mà bà biết họ chẳng ưa thích gì khi có sự hiện diện của mình. Nhưng
biết làm sao được. Bởi động cơ dẫn lối đưa đường bà đến gặp Chúa
Giêsu chính là cô con gái yêu quý của bà đang ngày đêm khổ sở vì bị
quỷ ám. Vì tình mẫu tử, bà đã vượt qua mọi cản ngăn để đến gặp Chúa
Giêsu với hy vọng Người sẽ cứu giúp con bà.
“Lạy Ngài là con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi! Đứa con gái tôi
bị quỷ ám khổ sở lắm”. Không một lời lên tiếng. Im lặng bao trùm. Quả
đúng như những gì bà đã lường trước. Người bà đang cần sự giúp đỡ
chẳng mặn mà gì. Sự im lặng của Người đến khó hiểu. Còn các môn đệ
của Chúa Giêsu xem ra cũng khó chịu khi có sự hiện diện của bà, nên
không ngừng hối thúc Thầy mình đuổi bà ấy về cho khỏi chướng tai gai
mắt. Mặc dù vậy, người phụ nữ Canaan vẫn kiên trì. Bà biết mình phải
làm gì trong trường hợp không lấy gì làm dễ chịu này.
“Lạy Ngài, xin cứu giúp tôi”. Tiếng bà lại vang lên khi toàn thân bà
phục xuống bái lạy Chúa Giêsu với hy vọng Người sẽ đoái thương. Phủ
phàng thay, câu trả lời của Chúa Giêsu, vô hình trung, như gáo nước
lạnh giữa trời đông xối vào mặt bà. “Không nên lấy bánh của con cái
mà ném cho lũ chó con”. Cho đến lúc này, Chúa Giêsu vẫn trung thành
với điều mà Người đã nói trong lúc khai mạc sứ vụ rao giảng Tin mừng.
Theo đó, sứ mệnh của Người chỉ dành cho “con chiên lạc nhà Israel” mà
thôi. Vì thế, câu nói của Chúa Giêsu xem ra sỗ sàng, khiến người khác
phật lòng nhưng lại nói lên lòng mong mỏi của Người dành cho nhà
Israel.
Liên tiếp phải hứng chịu sự thật phủ phàng, người phụ nữ Canaan không
mảy may dao động hoặc tức giận tháo lui. Trái lại, bà còn dùng ngay
chính sự thật phủ phàng này để trả lời Chúa Giêsu một cách hết sức
khôn khéo và tế nhị. “Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng
được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống”. Thưa bà Canaan! Chúng
tôi không biết tên bà. Nhưng có thể tên bà là đại diện cho một dân
tộc hay đại diện cho toàn khối dân ngoại. Câu nói của bà không chỉ là
câu nói hay nhất, tế nhị và khôn khéo nhất mà còn là một lời tuyên
xưng niềm tin của bà đối với người mà bà đang đối diện. Chính niềm
tin mãnh liệt của bà đã làm cho Chúa Giêsu kinh ngạc nếu không nói nó
gây nên một cú xốc cho Người. Thưa bà Canaan! Với niềm tin mãnh liệt,
bà đã thắng Thiên Chúa.
“Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì sẽ được vậy”. Lời
của Chúa Giêsu không chỉ là lời tán thưởng, lời ban bình an và xua
đuổi tà thần mà còn là lời xoá đi mọi trở ngăn, mọi thứ lề luật nhỏ
nhen thấp hèn do con người tạo nên. Từ đây, nhờ niềm tin, người phụ
nữ Canaan – một hạng dân ngoại, một kẻ dơ bẩn được Thiên Chúa đón
nhận, cho làm bạn nghĩa thiết với Người. Niềm tin mãnh liệt đó đã làm
cho bà trở nên người đáng được tôn vinh, làm cho bà từ một khách lạ
trở thành người nhà của Thiên Chúa và còn hơn thế nữa, từ nay “lũ chó
con” kia được đồng bàn với chủ, được hưởng mọi ân lộc của chủ, được
hưởng ơn cứu độ chứ không phải chỉ ăn những mảnh vụn từ bàn chủ rơi
xuống.
Người phụ nữ Canaan là mẫu gương cho mỗi người chúng ta. Chính đức
tin của bà làm cho mỗi người chúng ta phản tỉnh. Với những gì mà
người phụ nữ Canaan đã làm, chúng ta hãy xem chúng ta đang ở đâu
trong bàn tiệc Thiên Chúa, trong Giáo hội và trong lòng nhân loại?
Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb
|