|
“Phêrô, anh có yêu mến Thầy không?”
Chúa nhật 3 Phục
sinh C (Ga
21, 1-19)
Sau khi sống lại, đây là lần thứ ba
Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ. Hai lần trước, Người hiện ra với
các ông tại nơi các ông ẩn náu vì lo sợ người Dothái bách hại. Lần
này trên Biển hồ Tibêria, nơi Phêrô và các môn đệ khác đang thả lưới
chài cá. Tin mừng hôm nay không chỉ nói đến việc Chúa Giêsu hiện ra,
cùng ăn uống sinh hoạt với các môn đệ, mà còn là việc tập trung vào
hai nhân vật quan trọng mà một đại diện cho tình yêu và một đại diện
cho thủ lãnh gánh vác trọng trách của Giáo hội sau này, đó là tông
đồ Gioan và Phêrô.
Gioan – môn đệ của Tình yêu
Lời Chúa hôm nay một lần nữa giúp
chúng ta hiểu rõ hơn về con người Gioan và lý giải tại sao ông lại
có biệt danh là “người môn đệ được Chúa Giêsu thương mến”.
Trước hết chúng ta thấy cuộc đời của
Gioan luôn gắn kết mật thiết với cuộc đời của Chúa Giêsu, với Mẹ
Maria và với Giáo hội thời sơ khai. Ông là một trong những môn đệ
đầu tiên bước theo Chúa Giêsu và cũng là người được ưu ái chứng kiến
những biến cố xảy ra trong suốt hành trình bước theo Thầy chí thánh.
Từ biến cố Hiển dung cho đến bữa tiệc ly; từ cuộc Khổ nạn của Chúa
Giêsu, đứng dưới chân thập giá để nhận lời Chúa Giêsu giao phó Mẹ
Maria cho mình đến biến cố Chúa Phục sinh và hôm nay, chính ông là
người “phát giác” ra sự hiện diện của Chúa và cũng là đối tượng để
gắn kết cuộc nói chuyện giữa Chúa Giêsu với Phêrô. Điều gì đã khiến
cho Gioan có được sự bén nhậy như thế? Câu trả lời hết sức giản dị,
đó chính là tình yêu! Vâng, với Gioan thì quả đúng như vậy thật.
Trong các tác phẩm của mình, Gioan đã đem hết lòng say mê và sự nhậy
cảm của tâm hồn để diễn tả về Thiên Chúa mà một trong ba kiểu diễn
tả đó chính là “Thiên Chúa là Tình yêu” (x. 1Ga 4,8). Khi diễn tả
về một Thiên Chúa là Tình yêu, Gioan cho thấy đây không phải là
một khái niệm trừu tượng khó hiểu nhưng là một sự diễn tả hết sức cụ
thể và cô đọng. Tình yêu đó được thể hiện qua việc Con Thiên Chúa
mặc lấy xác phàm, trở nên của lễ đền tội và mang lại sự sống cho
nhân loại.
Gioan tỏ ra là một con người rất bén
nhậy với những dấu lạ. Nếu ở Chúa nhật trước chúng ta thấy trong khi
Phêrô và Maria Mácđala nhìn thấy sự kiện ngôi mộ trống rỗng và theo
đuổi với những ý nghĩ rất riêng tư thì Gioan, trái lại, ông đã nhìn
sự kiện đó không chỉ bằng “lý lẽ của con tim” mà còn là lối suy
lý của khối óc tài ba. Hôm nay cũng vậy. Phêrô cũng như các môn
đệ khác đang mệt nhọc vì một đêm thả lưới mà chẳng có một con cá nào
mắc lưới. Các ông cũng chẳng quan tâm đến sự hiện diện của một “ông
khách” nào đấy đang đứng trên bờ vừa chỉ chõ vừa cười nói, gợi
chuyện với các ông và còn chỉ cho các ông thả lưới xuống bên phải
mạn thuyền để bắt cá. Có điều hết sức đặc biệt là Phêrô cũng như các
môn đệ đã không dựa vào kinh nghiệm cũng như tài đánh bắt cá của
mình để cười nhạo vị khách đang đứng trên bờ thao thao bất tuyệt kia
rằng: ông chả biết gì về nghề biển cả, chỗ này là bờ, chúng tôi đang
giặt lưới. Cả đêm chúng tôi phải chèo chống ra xa khơi mà còn chả
được mống cá nào huống là ở bờ, có mà hốt cát thì có, vân vân và vân
vân… Trái lại các ông âm thầm làm theo mà nhờ đó phép lạ xuất hiện.
Mẻ cá lạ lùng cho thấy rằng các môn đệ tự sức mình không thể làm
được gì nếu không biết nhờ vào Đấng Phục sinh, nhờ và Lời của Người.
Và khi nhìn thấy mẻ cá lạ lùng đó, trong khi Phêrô cũng như các môn
đệ khác có lẽ đang nghĩ rằng ông khách kia quả là một ngư phủ dày
dạn kinh nghiệm thì Gioan thầm ghé tai Phêrô nhắc nhỏ : “Chúa đó!”.
Gioan một lần nữa lại cho chúng ta thấy rằng để nhìn ra Đấng Phục
sinh, người môn đệ cần phải nuôi dưỡng bằng tình yêu và bằng một
trực giác chiêm niệm mà mắt thường không thể nào nhận ra được. Nói
như thánh Peter Chrysologue, thì sự bén nhậy của Gioan chính là sự
bén nhậy của “kẻ được yêu” và “con mắt tình yêu thì tinh tường
hơn và kẻ được yêu cũng cảm nhận cách sắc bén hơn”.
Phêrô- người chăn dắt đoàn chiên
Giáo hội
Từ sau cái chết của Chúa Giêsu,
chúng ta thấy có ít nhất hai lần Phêrô đi ra khỏi nơi hầm trú. Một
lần sau khi được Maria Mácđala cho biết tình trạng ngôi mộ của Chúa,
ông và Gioan đã vội vã chạy đến mộ Chúa và trở thành chứng nhân đầu
tiên chứng kiến ngôi mộ trống và lần này, chính ông là người chủ
động khởi xướng chuyện đi biển để bắt cá và tại đây ông và các môn
đệ được Chúa hiện đến và, quan trọng hơn, chính ông là người được
Chúa trao phó nhiệm vụ chăm sóc Giáo hội.
Trên biển hồ Tibêria, Phêrô cho thấy
ông là một con người rất can trường, lăn xả và tận tình với công
việc. Khi nghe Gioan mách nhỏ “vị khách” đang đứng trên bờ là “Chúa
đó”, ông vội vàng lấy áo mặc vào rồi nhảy xuống biển để vào gặp
Người. Có thể nói khi được mẻ lưới đầy cá như thế, Phêrô vẫn chưa
“ngộ” ra điều gì, tâm trí ông lúc đó vẫn không có gì liên tưởng giữa
ông khách trên bờ với Thầy mình. Chính vì thế, chúng ta thấy Phêrô
có lẽ đang say mê với mẻ cá hay đang âm thầm khâm phục con mắt “rành
nghề” của ông khách kia, mà chẳng để ý, chẳng thắc mắc gì cả cho đến
khi được Gioan gợi nhắc. Câu nói của Gioan làm cho ông thức tỉnh và
tin tưởng. Hành động nhảy ùm xuống biển của Phêrô được thánh Peter
Chrysologue lý giải như là một hành vi “muốn rửa sạch các vết nhơ
vì đã chối Thầy đến ba lần” và vì ông là tông đồ trưởng nên hành
vi này cũng được xem là hành vi của “kẻ sám hối đầu tiên”.
Chính Phêrô là người nghe theo ông
khách để thả lưới và giờ đây khi biết đích thực là Chúa, cũng chính
ông là người cùng với các môn đệ kéo lưới vào tận bờ, gỡ từng con cá
một để rồi trình cả thảy 153 con lên cho Chúa. Tại sao chỉ có 153
con mà không có ít hơn hay nhiều hơn? Có nhiều cách giải thích nhưng
chúng ta chỉ dừng lại với cách giải thích mang tính thần học. Thời
xưa, các nhà sinh vật học tìm thấy và xác định chỉ có 153 loài cá
sinh sống trong biển khơi và vì thế, mẻ lưới mà Phêrô và các môn đệ
bắt trọn vẹn 153 con cá là hình ảnh báo trước mẻ lưới của các ngài
cũng sẽ tập hợp mọi dân tộc, mọi giống nòi trên toàn thể vũ trụ này
trong cùng một Giáo hội duy nhất.
Để quy tụ mọi dân tộc, mọi giống nòi
về một Giáo hội duy nhất, điều Chúa Giêsu muốn là phải có một người
dẫn dắt đoàn chiên như lòng Chúa ước mong, người đó không ai khác,
lại chính là Phêrô – vị tông đồ có không ít những lỗi lầm. Chúng ta
thấy là, để được Đấng Phục sinh long trọng xác nhận tư cách là thủ
lãnh để lãnh nhận sứ mệnh tông đồ đặc biệt thì điều kiện tiên quyết
không phải là “văn hay chữ tốt”, “tài đức vẹn toàn” mà chỉ được
gói gọn trong hai chữ “yêu mến” mà thôi : “Phêrô, anh có yêu mến
Thầy không?”. Thật ra đây chính là điều kiện nền tảng để có thể
chu toàn sứ mệnh mà Chúa trao phó bởi không có lòng yêu mến, công
việc của người mục tử cũng như của tất cả chúng ta dù thành công
cũng chỉ điểm tô, đánh bóng cho cá nhân của mình; trái lại, với lòng
yêu mến, chúng ta sẽ thấy bất cứ công việc nào cũng mang đến một giá
trị cao cả không chỉ cho chính đương sự mà còn mưu ích cho nhiều
người. Chính vì thế, Chúa Giêsu đã phải hỏi Phêrô đến ba lần - có
thể là sự gợi nhớ ba lần ông chối Thầy mà cũng có thể theo thói quen
thời đó, để chính thức uỷ thác cho ông nhiệm vụ chăm sóc đoàn chiên.
Với nhiệm vụ này, Phêrô đã chu toàn. Phêrô đã đi theo thầy của mình
trong quãng đời còn lại và đã lấy cái chết của mình để làm chứng về
Thầy. Phêrô đã tham dự vào sứ mệnh của Thầy tức là tham dự vào cái
chết và sự Phục sinh của Chúa, đồng thời hiến dâng mạng sống mình
cho anh em, cho đoàn chiên mà hôm nay chính Chúa Giêsu – Đấng Phục
sinh, đã trao phó cho ngài.
Với mẻ cá lạ lùng, Đấng Phục sinh đã
khai mở cho các môn đệ một cái nhìn mới về nhiệm cục cứu rỗi: không
có Đấng Phục sinh, hành trình ra khơi của Giáo hội, của Phêrô hay
của bất cứ ai cũng chỉ là một đêm dài vất vả, trở về trong ánh bình
minh nhợt nhoà mà thuyền đánh cá vẫn không có con cá nào, thuyền vẫn
nhẹ tênh sau đêm dài vô tận. Chỉ khi nào chúng ta nghe được tiếng
nói của Đấng Phục sinh và mau mắn đáp lại trong tình yêu và sự phó
thác, khi đó sự nghiệp ra khơi của Giáo hội, của mỗi người chúng ta
mới mang về những mẻ cá ngập thuyền. Vâng, chỉ có Đấng Phục sinh chứ
không ai khác mới có thể dẫn dắt chúng ta ra khơi trong sự mạo hiểm,
đồng thời gợi mở cho chúng ta những điều kiện tiên quyết để đạt đến
bến bờ hạnh phúc.
Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb
|