“NGƯỜI ĐI QUA ĐỜI TÔI...”
Quý độc giả Ephata
và Chứng Nhân Đức Kitô thân mến,
Trong những ngày
này, gia đình Nhà Dòng chúng tôi lay động bởi những xôn xao nhẹ
nhàng, nhẹ nhàng nhưng không kém phần xao động, xao động của những
niềm vui, xao động của những trăn trở và có cả nỗi buồn nữa.
Hôm kỷ niệm 80
năm ngày DCCT có mặt ở Việt Nam, 11 tháng 11 năm 2005, cha già Trần
Hữu Thanh, người duy nhất còn lại trong Dòng, đã đi dọc hết lịch sử
80 năm ấy, ngồi xe lăn chia sẻ bài giảng làm xúc dộng những người
tham dự Thánh Lễ Tạ Ơn tại Đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp Sài-gòn. Ông cụ
đã làm cho rất nhiều người khóc, rồi chính ông cụ cũng khóc, khóc vì
ơn Chúa quá lớn lao cho đời mình, cho anh em mình, cho cả Nhà Dòng
mình.
Ơn Chúa dành cho mình một cách rất cụ thể, không ở trên mây trên gió,
không xa vời, không lý thuyết rỗng,
nhưng rất cụ thể, rất rõ ràng và vẫn còn đó để ta chiêm ngắm. Cha
già nhắc đến công lao của các cha các thầy từ Canada đến Việt Nam
lập Nhà Dòng, những hy sinh quá lớn, quá sự tưởng tượng của con
người, mà ơn Chúa lại được các hy sinh ấy diễn đạt cho chúng ta nhận
ra.
Chuyện rất giản đơn của đời một Thừa
Sai, ra đi khi còn rất trẻû, trên dưới chưa đầy đôi mươi, rời quê
hương xứ sở, đến một đất nước lạ xa, ngồi vào lớp học với người bản
xứ, rồi lớn lên trên đất nước người ta, cả đời cho Việt Nam. Ngày
chịu chức Linh Mục, không một người thân đến dự, không cha, không mẹ,
không “lụa là gấm vóc”, không “yến tiệc linh đình”, không một cánh
thiệp báo tin, không một tờ “phù hiệu” dành cho người thân. Chịu
chức xong lủi thủi vào nhà, không một ai người ngoài Tu Viện đến
“dâng quà kính chúc”, không diễn văn chào mừng, không băng vải tung
hô !
Biến cố năm 75 đã xua các vị về nước.
Ngày ra đi, các vị đã gạt nước mắt, đã cố nhìn lấy quê hương này một
lần cuối. Ngày ấy, có ai nghĩ sẽ gặp lại nhau đâu ! Trong những ngày
”đêm trước đổi mới” ( tên của loạt bài trên báo Tuổi Trẻ mấy hôm
nay, viết về cái thời đen tối sau năm 75 ), đôi lần trong những liên
lạc hiếm hoi, cha già Olivier đã yêu cầu tôi viết thư bằng tiếng
Việt Nam, “để cha không quên tiếng Việt” !
Năm năm về trước, năm 2000, khi một vài
vị Thừa Sai còn đủ sức để sang Việt Nam thăm lại Nhà Dòng nhân kỷ
niệm 75 năm hiện diện, có một vị đã mang theo một cái hộp, cái hộp
đựng một ít đất ở Việt Nam, chỉ xin một điều, khi được Chúa gọi về,
hãy lấy dất trong hộp đặt trên ngôi mộ của mình, rồi trồng lên một
khóm hoa, gọi là để chết ở... Việt Nam.
Ngày kỷ niệm ở Hà Nội, đúng ngày 30
tháng 11, ngày của các Thừa Sai đầu tiên đặt chân đến Hà Nội Việt
Nam 75 năm trước, cũng cha già Trần Hữu Thanh, chứng nhân sống của
lịch sử Nhà Dòng đã chia sẻ trong Thánh Lễ. Cụ kể lại một câu chuyện
về một người bạn Linh Mục Canada, vị Linh Mục này đã bị gạch chéo
bài giảng mà ngài viết để nộp cho giáo sư trong chương học về giảng
thuyết của Nhà Tập thứ hai ( sau một thời gian làm Linh Mục, khoảng
9 hoặc 10 năm, các cha phải đi Nhà Tập Hai để khởi sự sứ mạng giảng
Đại Phúc, sứ mạng truyền thống của Dòng ), lời phê của giáo sư ghi
rõ: “không phải văn chương Việt Nam !” Vị Linh Mục Canada ấy đã về
phòng khóc nức nở, khóc trong đau khổ. Cha già giải thích: từ 12
tuổi đã sang Việt Nam, học và tu tại Việt Nam, nuôi chí giảng cho
người Việt Nam, học tiếng Việt Nam, bây giờ đã 43 tuổi, soạn một bài
giảng bị phê là không phải văn Việt Nam, sụp đổ hoàn toàn !
Kể xong câu chuyện, cha già kết luận:
“Chính những hy sinh cộng với sự thánh thiện của các cha Thừa Sai
Canada, đã gầy dựng nên Tỉnh Dòng chúng tôi hôm nay”.
Cha già Trần Hữu Thanh năm nay đã 90
tuổi, cả một đời Linh Mục của ngài ngược xuôi vạn nẻo đường, cả một
đời Linh Mục của ngài đã tung hoành ngang dọc, cả một đời Linh Mục
của ngài đã gây dựng nghiệp lớn cho Giáo Hội, cho quê hương, bây giờ
về già, ngồi ngẫm nghĩ lại, kết luận với con cái, với mọi ngươi:
“chính những hy sinh, cộng với sự thánh thiện mới làm nên sự nghiệp”,
tôi bị đánh động vì kết luận này.
Thế hệ chúng tôi
kém sự bén nhạy này, kém hẳn về sự bén nhạy với hai chữ hy sinh, hy
sinh: hình như hai chữ này không có trong “tự điển” ! Chúng tôi đua
đòi với nhau và đua đòi với thế gian, chúng tôi tìm sự vinh quang,
chúng tôi tìm lời xung tụng, chúng tôi tìm sự thoải mái, chúng tôi
quay quắt với ý riêng mình. Luật sống “bỏ ý riêng” lâu rồi đóng bụi,
chưa bao giờ chúng tôi mở ra để lau chùi chứ đừng nói đến sử dụng.
Xác định con đường, xác định mục đích, chúng tôi lao tới và bằng mọi
cách, chúng tôi phải đạt được ý mình đã đề ra làm tiền đề. Với Bề
Trên chúng tôi sẽ liệu cách để hợp thức sau, “tiền trảm hậu tấu”,
chúng tôi sẽ tính toán để đặt Bề Trên trong hoàn cảnh sự việc đã rồi,
chỉ có thể nói “yes” chứ không thể nói “no”, và nếu Bề Trên mạnh tay,
tôi sẽ la làng lên rằng “sao mà khó thế ?”
Hy sinh và thánh
thiện, chính sự hy sinh và thánh thiện làm nên sự nghiệp chứ không
phải tài năng hay tri thức. Tôi như trẻ thơ vừa mới ngộ ra một điều
tâm đắc, ý tưởng về hai nhân đức hy sinh và thánh thiện cứ theo tôi
mãi, cho đến khi trên đường từ Hà Nội quay trở vào Nam,
cùng chuyến đi, tôi gặp và ngồi cạnh một vị Linh Mục Triều khả kính,
ngài rất nổi tiếng trong lãnh vực hoạt động từ thiện giúp đỡ người
nghèo. Trong câu chuyện đường dài, ngài tâm sự với tôi về con đường
thiêng liêng ngài đeo đuổi trong hoạt động tông đồ, ngài nói về cha
già Olivier của chúng tôi, ngài nói về hình ảnh của cha già, tận tụy,
hy sinh, đạo đức, hết lòng cho Chúa và cho người nghèo, ngài bảo, đó
là hình ảnh gương mẫu cho ngài, cho đời Linh Mục của ngài.
Vẫn là hy sinh và thánh thiện.
Xin chân thành cám ơn những con người hy sinh và thánh thiện đã đi
qua đời tôi...
Lm. VĨNH SANG, DCCT, đầu Mùa
Vọng 2005
|