“...BÌNH AN DƯỚI THẾ CHO LOÀI NGƯỜI CHÚA THƯƠNG”

Quý độc giả Ephata và Chứng Nhân Đức Kitô thân mến,

Noel năm nào cũng vậy, các cha các thầy trong Dòng chúng tôi cũng tản ra, đi khắp nơi để chia sẻ niềm vui Chúa Giê-su Giáng Sinh với nhiều cộng đoàn, nhiều điểm truyền giáo khác nhau. Năm nay có thêm một số mục vụ  khá đặc biệt, như ra ngoại thành với hàng ngàn anh em công nhân di dân; về Giáo Xứ Hạnh Thông Tây với anh em khuyết tật trong Đêm Yêu Thương; lên Trung Tâm Trọng Điểm ở Bình Dương với anh em bệnh nhân AIDS v.v... Có người ra tận ngoài Bắc, có người lên cao nguyên, lại có người xuống Miền Tây. Còn tôi thì xin tái ngộ với một làng Phong cách Sài-gòn hơn 230 cây số.

Đã tròn hai năm, nay mới trở lại nơi chốn mang nhiều kỷ niệm này. Bây giờ về lại Nhà Dòng rồi, nghỉ ngơi ăn uống một chút, ngồi vào bàn phím vi tính ngay vì những cảm xúc cứ đòi được chia sẻ...

Khí hậu vùng cao mát lạnh, sương chiều xuống khá dày, mới gần 7 giờ tối mà các cháu bé đã tụ lại sinh hoạt vang rộn một mỏm đồi. Mấy chiếc đèn ông sao mang từ thành phố lên được mấy anh em sinh viên treo vội lên trước Nhà Thờ và nhà hội, tỏa những vòm sáng màu đỏ cam khiêm tốn bên những dây cờ đủ sắc, một máng cỏ đơn sơ cạnh bên một cây thông thứ thiệt được mắc thêm một vài quả boules ắt hẳn cũng đã quá đủ để có một bầu khí Lễ Hội. Nhưng đối với các bệnh nhân Phong người dân tộc thiểu số và con cái ở đây, áng chừng những chi tiết trang trí ấy không quan trọng cho bằng điều đang gần đến trong tâm hồn họ, một Lễ Hội của niềm vui sâu xa hơn nhiều so với cảnh sắc Lễ Hội quá sa hoa lộng lẫy và đậm mùi phàm tục ở thành phố. Đơn giản bởi ở đây còn nghèo lắm. Hóa ra nghèo mà lại... hay, mà lại ứng hợp với Tin Mừng Chúa Giáng Sinh !

Cứ nhìn những cụ già tàn phế chống nạng nhấp nhô tập tễnh từ bốn ngả đường làng tiến lên mỏm đồi Nhà Thờ mà xem, họ không có quần áo mới và đẹp đâu ! Cứ nhìn những ông bố bà mẹ trẻ địu con trên lưng, tay còn dắt thêm mấy đứa bé nhỉnh hơn một chút, đứng lấp ló ở cửa Nhà Thờ mà xem, họ vẫn còn đượm mùi mồ hôi sau một ngày lao lực như mọi ngày ! Cứ nhìn các bạn trẻ ca đoàn lục tục ngồi vào những hàng ghế bên cánh trái Cung Thánh mà xem, vẫn đen đen nâu nâu một màu da không có kem dưỡng DeBon, một mái tóc quăn không có dầu gội Sunsilk. Vậy mà họ vẫn toát ra một thứ hương của máng cỏ nghèo Bê-lem ngày xưa...

  Đúng 8 giờ tối, chúng tôi bước vào phần Canh Thức Giáng Sinh. Không có hoạt cảnh, không có trình diễn Thánh Ca, không có ban nhạc trống đàn, chỉ thuần túy cầu nguyện với một đoạn ngắn mở đầu Tin Mừng của Gio-an: “Ánh sáng đã chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng... Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người... Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận... Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta...”

Hỏi chứ ở đây có bóng tối không ? Thưa có, nhưng may quá, đó chỉ là bóng tối vật lý, nghĩa là thiếu những ống đèn quảng cáo, thiếu những ánh đèn follow sân khấu, thiếu những đèn pha sáng quắc của các loại xe Spacy, Dylan, @ và Mercedes... chứ lại không hề thiếu thứ ánh sáng nội tâm thường chỉ dễ gặp nơi những con người gánh chịu bệnh hoạn tật nguyền.

Hỏi chứ ở đây có để quên Chúa đứng bên ngoài cánh cửa đời mà chẳng chịu đón tiếp không ? Chắc là không, vì nhà sàn bằng gỗ được dựng lên từ mấy chục năm nay, không có cửa, mà có cửa cũng bằng không, bởi có bao giờ phải khép thật chặt với mấy cái ổ khóa và mấy cái chốt cái then cửa đâu !

Lại sực nhớ những năm 20 của thế kỷ 20, đã từng có một người Pháp, một Linh Mục, một Giám Mục hẳn hoi, đã giã biệt quê hương văn minh của mình, để lặn lội sang đây, đã từ khước cả chiếc ngai Tổng Giám Mục để ân cần về đây xin làm một người Phong nói tiếng Thượng ở giữa những người Thượng bị bệnh Phong. Thì ra người Pháp dễ thương ấy muốn bắt chước “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta...”

Còn nhớ đã có một bản Kinh Thánh tiếng Việt dịch là “Ngôi Lời đã trở nên xác phàm và cắm lều ở giữa chúng ta...”. Động từ “cắm lều” ấy không biết sát với văn bản gốc tiếng Híp-ri đến mức nào, nhưng đối với những người bệnh Phong ở làng này thời khởi nghiệp thì sát lắm, sát vô cùng !

Vậy rồi những cái lều cái chòi ngày xưa ấy bây giờ chỉ còn trên những tấm ảnh đen trắng được trân trọng lưu giữ trong phòng truyền thống của làng. Có một khoảng cách gần tám mươi năm rồi còn gì ? Dẫu vậy, người Pháp khai sinh làng Phong ngày ấy nay vẫn cứ còn hiện diện mãi ở giữa những “người nhà” thân thiết của mình. Mà không chỉ người trong làng đâu nhé, bao nhiêu người dân Kinh lẫn Thượng khoẻ mạnh lành lặn trong vùng vẫn cứ thỉnh thoảng lại chạy xe lên đây “cúng” cả một mâm sôi vò thơm phức, cả những tảng thịt quay béo ngậy, cả một ổ bánh kem mấy tầng... để tạ ơn vì những phép lạ lành bệnh tỏ tường. Thôi thì chỉ còn chờ ngày người Pháp tự nguyện mang tên Việt ấy, một “Bẹp Đờn” ( ông Cha Lớn ) được vinh phong làm Chân Phúc nữa là trọn vẹn.

Tôi lại chợt nhớ đến câu chuyện về một chị cũng người Pháp, làm tiếp viên hàng không, đẹp như hoa hậu, trong một chuyến bay của hãng Air France bay từ Roma về New York, đã bị Đức Hồng Y Tổng Giám Mục Fulton Sheen chinh phục, đã tự nguyện xin làm Nữ Tu sang phục vụ ở đây những năm hậu Công Đồng Vatican 2. Trong một dịp giảng Tĩnh Tâm năm, tôi đem ra kể cho các chị Nữ Tu, mọi người ai cũng chú ý lắng nghe, lấy làm xúc động lắm. Tôi bèn hỏi lại cho chắc ăn, câu chuyện ấy có phải chuyện thật không, hay chỉ là một giai thoại tôn giáo thời hiện đại. Một bà già lắm rồi bèn giơ tay đứng lên xác nhận một cách hãnh diện, giọng Nam bộ chính cống: “Chị ấy là sưa Louise Bannet cùng lớp khấn trong Dòng với tui đó nghen...” Tôi mừng quá. Lại hỏi thêm: “Bây giờ soeur ấy đâu rồi, chắc cũng già lắm nhỉ ?” Bà cụ trả lời: “Dạ, bả chết rồi cha ơi ! Mà cha biết hông, sau 75, bị trục xuất bvìa Pháp, bả đâu có chịu ở yêng, còn đi truyền giáo đâu bên Châu Phi, rồi tiếp tục lo người cùi, mới chết hồi năm 1986 nè ! Thiệt hết biết bvậy đó, coi hình, già rồi bvẫn còn đẹp quá đỗi ! Hồi đó, mấy bà sưa Bviệt Nam tụi tui, bữa nào gảnh gảnh ngồi chơi là... dòm bả cho đã con mắt !”

Các chị trong Dòng ấy nay vẫn tiếp tục nối gót cái “bà sưa đep quá đỗi” đó để phục vụ người bệnh Phong. Dì Tư 36 năm, Dì Hai 32 năm, mấy Dì trẻ hơn cũng cả mười mấy hai chục năm. Vẫn tận tụy với “người nhà” bởi đây đã là “nhà” của họ có lẽ đến suốt cả cuộc đời.

  Lê Đêm Giáng Sinh đã mãn, mấy thầy và cánh sinh viên chia nhau trao những gói bánh nho nhỏ cho từng người. Chẳng cần ông già Noel mà lũ trẻ vẫn cứ reo vui líu lo như một đàn chim. Có bé thấy đứng riêng một góc, hai tay giấu sau lưng, một bạn trẻ chạy lại đưa cho gói bánh, bé lắc đầu. Tưởng bé không thích, hỏi mãi bé mới chìa gói bánh ra. Lại hỏi thế sao bé không ăn đi ? Bảo để dành đem về cho đứa em bị bệnh nằm nhà. Thế là bạn trẻ lấy thêm gói nữa bảo cứ ăn đi, gói kia đem về. Bé mỉm cười tươi rói trong đêm rồi a chạy về nhà ở cuối con dốc !

Đến 10 giờ đêm, sương giá lạnh căm căm, các cháu bé mới chịu hát bài chia tay. Tôi đang cúm mấy ngày nay, lại mới trúng gió, mệt quá nên đi ngủ sớm, mai sẽ còn dâng một Lễ Rạng Đông lúc 5 giờ rưỡi. Nằm trên giường trùm chăn kín mít, tôi vẫn còn nghe loáng thoáng bên ngoài tiếng các bạn trẻ Sài-gòn ngồi tâm sự chia sẻ với nhau mãi. Ắt hẳn các bạn ấy cũng khó ngủ như tôi. Khó nủ không phải vì lạnh hoặc lạ nhà, nhưng có lẽ vì còn đọng mãi những ấn tượng của Đêm Giáng Sinh, đêm bình an thật sự cho “loài người Chúa thương...”

Lm. LÊ QUANG UY, DCCT, thứ bảy 25.12.2004