|
CẢ THẾ GIỚI
LÊN MẠNG
THAM
LUẬN TẠI CUỘC HỘI THẢO NGÀY 12.12.2002
DO
ỦY BAN GIÁM MỤC VỀ VĂN HÓA
VÀ
TÒA TỔNG GIÁM MỤC GIÁO PHẬN SÀI-GÒN TỔ CHỨC
NHÂN
KỶ NIỆM 40 NĂM CÔNG ĐỒNG VATICAN 2
(1962 – 2002)
Lm.
LÊ QUANG UY, DCCT
MỤC LỤC
I. CÂU CHUYỆN MỞ ĐẦU 05
II. ĐỌC LẠI SẮC LỆNH “INTER MIRIFICA” 08
1. Nguyên tắc luân lý 09
2. Hướng dẫn ứng dụng 11
III. VẬY, INTERNET LÀ GÌ ? 13
1. Một vài nét lịch sử ngắn gọn của INTERNET 14
2. Bốn nét đặc trưng chính yếu của INTERNET 14
IV. ĐẠO ĐỨC TRONG INTERNET 16
1. Dẫn nhập 16
2. Về INTERNET 18
3. Những khía cạnh đáng quan tâm 18
4. Những đề nghị và kết luận 20
V. TRUYỀN GIÁO BẰNG INTERNET 22
VI. GIÁO HỘI VÀ INTERNET 24
1. Dẫn nhập 24
2. Cơ hội và thách đố 26
3. Những đề nghị và kết luận 28
VII. NHỮNG ỨNG DỤNG INTERNET TRONG GIÁO HỘI 29
VIII. INTERNET VỚI GIÁO HỘI TẠI VIỆT NAM 31
IX. LỜI KẾT TRƯỚC KHI... EXIT 34
Phụ bản: Các địa chỉ Web Site Công Giáo 36
CẢ THẾ GIỚI LÊN MẠNG
I. CÂU CHUYỆN MỞ ĐẦU
Có lẽ chúng ta sẽ bắt đầu bài chia sẻ này bằng một câu chuyện có
thật, hơi dài một chút nhưng hết sức ly kỳ, gây xúc động đặc biệt vì
đậm tính nhân bản, một câu chuyện liên quan đến mạng INTERNET, đề
tài mổ xẻ của chúng ta. Dưới nhan đề “Angels On The INTERNET” (
Những Thiên Thần trên INTERNET ), đăng trên nguyệt san Reader’s
Digest số ra tháng 11.1998, ký giả Malcolm Mc Connell kể lại 1 như
sau:
Anh Đặng Dũng Tâm ( Yongxin Deng ), 31 tuổi, là một sinh viên Trung
Quốc được học bổng du học về ngành địa chất tại trường University of
Western Australia, thành phố Perth, Úc Châu. Ngày 11.10.1997, vợ anh
là chị Hán Đơn ( Han Dan ), từ thị trấn Urumqi tận bên quê nhà Trung
Quốc, cách xa 5.500 dặm, gửi điện tín báo tin cho chồng biết: con
trai duy nhất của họ, bé Triệu Hán ( Shao Han ), 3 tuổi, nguồn hy
vọng và tương lai của gia đình mà họ thường thân mật gọi bé là Thọ
Thọ ( Shao Shao ), có nghĩa là “Nụ Cười”, đang trong tình trạng nguy
kịch ! Bác sĩ cho biết một ngăn trong trái tim của bé đã ngưng hoạt
động, không thể chuyển máu đi các nơi ! Căn bệnh nguy hiểm này có
thể gây ra chứng áp huyết tăng cao bất thường và tác hại cho hai lá
phổi, gây tử vong bất cứ lúc nào. Với khả năng chữa trị dạo ấy tại
Trung Quốc, mọi người đều bó tay chịu thua !
Nhận được tin sét đánh, anh Đặng Dũng Tâm quá đau khổ, bồn chồn lo
sợ, nhưng lại không thất vọng. Anh tin tưởng vào phương pháp chữa
trị tiến bộ vượt bực của y khoa thế giới. Anh Tâm chợt nghĩ đến
INTERNET, anh đánh liều phóng một E-Mail lên mạng lưới thông tin
toàn cầu với lời cầu cứu khẩn cấp: “Con trai duy nhất yêu quý của
chúng tôi là bé Triệu Hán, 3 tuổi, đang trong tình trạng nguy kịch
vì nghẽn tim bẩm sinh ( seriuos congenital heart disease ). Vợ chồng
chúng tôi tha thiết van nài mọi người trên thế giới hãy cầu nguyện
và ra tay cứu giúp cháu. Chúng tôi xin muôn vàn cảm tạ”.
Cách xa nửa vòng trái đất, bà Mary Ann Wehland, cư ngụ tại thành phố
Pendleton, tiểu bang Oregon, Hoa Kỳ, tình cờ truy cập vào INTERNET,
bất ngờ đọc được lời cầu cứu khẩn cấp của anh Tâm. Chính những giòng
chữ liên quan đến cháu bé đang “nguy kịch vì bệnh tim bẩm sinh” đã
khiến bà xúc động nghẹn ngào vì trước đó chính con trai bà là bé
David, 12 tuổi, cũng đã phải giải phẫu 3 lần vì căn bệnh tương tự
như của bé Thọ Thọ, con trai anh chị Tâm. bà Mary Ann tức tốc gửi
ngay một E-Mail sang Úc cho anh Tâm, hứa sẽ làm tất cả những gì có
thể, để cứu bé Thọ Thọ như chính bà đã lo cho con mình. Phải tìm
cách đưa bé từ Trung Quốc sang Hoa Kỳ, vì ở đấy mới hy vọng có đầy
đủ phương tiện y khoa tối tân để chữa trị. Bà và anh Tâm phối hợp
với nhau, liên tiếp gửi hàng trăm E-Mails đi khắp nơi kể rõ sự việc
và xin được giúp đỡ, trong đó có địa chỉ Hiệp Hội Phụ Huynh về Tim,
gồm các người cha người mẹ có con bị bệnh tim bẩm sinh, có cả địa
chỉ ông bà Sandberg, một cặp vợ chồng hăng say hoạt động cho nhân
quyền tại Thụy Điển.
Trong khi bệnh tình bé Thọ Thọ ngày càng nguy kịch, ngày 7.11.1997,
anh Tâm phải bỏ dở việc học, từ Úc Châu bay về Trung Quốc, thì hàng
trăm E-Mails khắp thế giới tới tấp gửi đến khích lệ anh chị Tâm. Anh
chị đã thật sự xúc động, không ngờ trên thế giới lại có nhiều tâm
hồn cao thượng vị tha đến như thế.
Rồi bất ngờ bà Mary Ann nhận được một E-Mail hồi âm của bác sĩ nhi
khoa Juan Alejos, giáo sư trường University of California, đang phục
vụ tại bệnh viện nhi đồng thành phố Los Angeles, hứa sẽ tận tình
chữa trị, vì theo lời ông: “Chúng ta không thể nào đang tâm bỏ rơi
em bé đáng thương này !” Mỗi năm bác sĩ Juan Alejos thường hướng dẫn
nhiều phái đoàn y tế Đại Học UCLA đến chữa bệnh miễn phí tại Peru và
các nước Nam Mỹ, nên thông cảm hoàn cảnh anh chị Tâm, ông nhận chữa
trị miễn phí cho con họ với điều kiện gia đình phải được đưa sang
thành phố Los Angeles, Hoa Kỳ.
Nhưng làm thế nào có đủ tiền cho 3 vé máy bay khứ hồi Trung Quốc đến
Hoa Kỳ ? Đó là vấn đề to lớn nan giải quay cuồng trong đầu óc bà
Mary Ann Wedland. Trong khi mấy tháng qua, bà chỉ xin được vỏn vẹn
có vài trăm USD, còn anh chị Tâm vay mượn bà con họ hàng nội ngoại
cũng chỉ có được 2.000 USD. Trong hoàn cảnh tiến thoái lưỡng nan này,
bà Mary Ann quyết định táo bạo như đánh một canh bạc: vừa tiến hành
thủ tục đưa gia đình anh chị Tâm sang Hoa Kỳ vừa phóng thêm hàng
trăm E-Mails đi khắp nơi cầu cứu.
Thật là một may mắn không ngờ, bà Brenda Isaacs Booth, một nữ tài tử
điện ảnh tại Los Angeles bất ngờ đọc được E-mail của bà Mary Ann.
Một sự trùng hợp kỳ lạ: bà Brenda cũng có cháu trai tên Liam, 20
tháng, mới được giải phẫu bệnh nghẽn tim, nay đang bình phục, hứa sẽ
vận động tài chánh. Trong vài ngày, bà Brenda đã lạc quyên trong gia
đình được 9.500 USD, cộng chung với một số ân nhân từ Michigan, và
từ Úc Châu gửi tới. Thế là với số tiền gần 10.000 USD, ngày
30.1.1998, gia đình anh chị Tâm đã đáp máy bay từ Trung Quốc đến Hoa
Kỳ. Đón anh chị và cháu bé tại phi trường Los Angeles là những người
không phải là ruột thịt, cũng chưa bao giờ gặp gỡ quen biết, bà
Brenda xúc động nói trong nghẹn ngào khi thấy bé quá gầy yếu xanh
xao: “Làm sao tôi có thể đành lòng không giúp anh chị như tôi đã
từng lo cho con tôi ?”
Nhưng đột ngột bệnh tim của bé Thọ Thọ lại biến chứng ! Bác sĩ Juan
Alejos, người tình nguyện chữa trị miễn phí, thấy áp huyết quá cao
ảnh hưởng trực tiếp đến hai lá phổi nên không thể giải phẫu được !
Ông liền cầu cứu bác sĩ Hillel Laks, bác sĩ trưởng Trung Tâm Tim
Mạch Đại Học UCLA, cũng là người đã giải phẫu cho bé Liam, con trai
của nữ tài tử điện ảnh Brenda. Theo bác sĩ Hillel Laks, trong trường
hợp nguy hiểm này phải áp dụng phương pháp “Dacron Band” để hạn chế
bớt dòng máu đưa vào phổi, và sau khi áp huyết đã giảm mới giải phẫu
được. Nhưng muốn thực hiện ca giải phẫu nguy hiểm này, phải tốn trên
100.000 USD.
Đào đâu ra số tiền khổng lồ này ? Bà Brenda lại sử dụng INTERNET để
liên lạc ngay với nhật báo Los Angeles Times. Một bài báo với lời
kêu gọi liền được đăng tải trên tờ nhật báo danh tiếng này. Ngày hôm
sau, đài Truyền Hình NBC trong chương trình “Today” cũng chạy một
hàng tin kêu gọi khán thính giả giúp đỡ. Ông Frederic D. Rosen, Giám
Đốc Công Ty CEO, tình cờ coi truyền hình NBC, xúc động trước lời kêu
gọi, liền gửi một chi phiếu 25.000 USD. Ngoài ra ông còn khuyến
khích người bạn, ông Richard Riordan, Thị Trưởng thành phố Los
Angeles, đóng góp thêm. Trong lúc đó, bác sĩ Hillel Laks cũng nhận
được nhiều chi phiếu của rất nhiều vị ân nhân ẩn danh, từ thành phố
Los Angeles, New York, Chicago, các tiểu bang Hoa Kỳ và khắp nơi
trên thế giới tới tấp gửi đến. Tổng cộng số tiền lên tới 110.000 USD,
vượt quá con số mong muốn ! Quá xúc động trước những tấm lòng vàng
của Tình-Người-Vượt-Không-Gian, anh chị Tâm chỉ biết nói: “Làm sao
vợ chồng chúng tôi có thể đền ơn tất cả những vị ân nhân mà chúng
tôi không bao giờ quen biết ?”
Và ngày 14.4.1998, một cuộc giải phẫu tim nguy hiểm kéo dài nhiều
giờ để giành giật với tử thần do bác sĩ Hillel Laks thực hiện cho bé
Thọ Thọ đã thành công mỹ mãn. Sau 6 tuần lễ điều trị tại bệnh viện,
nữ tài tử Brenda đón bé Thọ Thọ và anh chị Tâm đến thăm gia đình, để
hai bé Liam và Thọ Thọ chơi chung với nhau trước khi trở về Trung
Quốc. Riêng chị Hán Đơn, mẹ bé Triệu Hán, lại nói: “Từ nay, cái tên
gọi thân mật Thọ Thọ của bé mới đích thực là Nụ-Cười-với-mọi-người”.
Nụ Cười của Tình-Người-Vượt-Không-Gian.
Ấy là câu chuyện xảy ra vào những năm cuối cùng của thế kỷ 20, một
thế kỷ khơi mào và báo hiệu cho một thế kỷ sắp đến, được mệnh danh
sẽ là thế kỷ của sự bùng nổ tin học, trong đó ngành thông tin đại
chúng ( Mass Media ) sẽ phát triển với tốc độ vũ bão. Còn ở đây, lúc
này, 2002, chúng ta hãy cùng nhau ngược dòng thời gian về trước, gặp
lại thời điểm tháng 12 năm 1963, khi Công Đồng Vatican 2 công bố Sắc
Lệnh về các Phương Tiện Truyền Thông Xã Hội “INTER MIRIFICA”. Tròn
39 năm vật đổi sao dời, biết bao nhiêu thành tựu khoa học đã được
phổ biến và ứng dụng mà dạo ấy có nằm mơ cũng không tưởng tượng được
những cái chúng ta ngày nay xem là chuyện bình thường tự nhiên.
II. ĐỌC LẠI SẮC LỆNH “INTER MIRIFICA”
Tên gọi của Sắc Lệnh, được trích ra 2 từ ngữ La-tinh mở đầu văn kiện:
“INTER MIRIFICA” ( IM ) mà các cha Dòng Tên dịch là: “Trong những
phát minh kỳ diệu về kỹ thuật...” 2 Các vị Nghị Phụ Công Đồng chấp
bút lúc ấy kể ra cũng đã cảm thấy choáng ngợp trước những chuyển
biến khoa học thời hậu Thế Chiến, đặc biệt về mặt Truyền Thông. Ngay
Lời Mở Đầu có đoạn nhận định: “...trổi vượt hơn cả là những phương
tiện tự bản tính không những có thể liên hệ và ảnh hưởng đến từng
người, mà còn đến chính đại chúng và toàn thể xã hội nhân loại như:
báo chí, điện ảnh, phát thanh, vô tuyến truyền hình và những thứ
khác tương tự...” ( IM, 1 )
Những thứ khác tương tự chắc là chưa thể tính đến INTERNET, bởi dạo
ấy, INTERNET chỉ mới được ứng dụng rất hẹp và chuyên sâu trong liên
lạc giữa các vệ tinh không gian và trạm điều hành mặt đất, và mặt
khác, để lưu trữ các dữ liệu thông tin cần bảo mật tuyệt đối vì liên
quan đến an ninh quốc gia trong bối cảnh chiến tranh lạnh đang căng
thẳng giữa hai cường quốc Mỹ và Liên Xô.
Như thế thì làm gì INTERNET đã phổ biến trong xã hội, làm gì đã có
ảnh hưởng sâu xa đến nhân loại mà Giáo Hội phải ưu tư ? Tuy nhiên Bà
Mẹ Giáo Hội, vốn dĩ bị người đời ác khẩu hay châm biếm chỉ trích là
khó tính, là bảo thủ, là chậm chân so với đà tiến của thế giới,
chính Bà Mẹ Già ấy như thể có cái nhìn tiên tri, lại được luồng Thần
Phong của Vatican 2 lồng lộng thổi tới, đẩy đến gần, chạm vào con
người thời đại. Và đang khi con người còn mải mê suýt soa trầm trồ
về khả năng không ngờ được của mình về khoa học kỹ thuật trong lãnh
vực Truyền Thông, thì Bà Mẹ Giáo Hội lại tỏ ra “đặc biệt ân cần tiếp
nhận và theo dõi, từ những phát minh liên quan sâu đậm tới tinh thần
con người, đến những phát minh mở ra nhiều con đường mới để truyền
thông một cách hết sức dễ dàng đủ các loại tin tức, tư tưởng và mệnh
lệnh.” ( IM, 1 )
Dẫu sao, phải thành thật nhận xét rằng văn kiện này chỉ giữ một vị
trí hết sức nhỏ bé trong toàn khối các văn kiện của Công Đồng
Vatican 2. Chuyện ấy là đương nhiên, không có gì phải phàn nàn, Giáo
Hội lúc ấy – và có lẽ cả bây giờ nữa, đang có và vẫn luôn có biết
bao nhiêu vấn đề quan trọng thiết thân hơn chuyện Truyền Thông Xã
Hội. Dẫu sao, Sắc Lệnh “INTER MIRIFICA” vẫn có thể được coi là văn
kiện tiên phong liên quan đến các ngành Truyền Thông, mở ra một cái
nhìn tương đối mang tính đối thoại với nhân loại và ngỏ lời muốn dấn
thân cộng tác với xã hội. Văn kiện này rồi ra sẽ làm nền cho các văn
kiện sau này của Giáo Hội về mặt Truyền Thông, khi mà INTERNET sẽ
trồi lên như một lãnh vực vạn năng như chúng ta thấy hiện nay. Vậy,
thiết tưởng cũng cần phải đọc lại một cách thích đáng văn kiện khai
phá này.
Lược qua 24 số của Sắc Lệnh, chúng ta thấy nổi lên 2 nội dung:
1. Nguyên tắc luân lý:
Giáo Hội, với tư cách là một trong các đại diện tôn giáo lớn trên
thế giới, giữ một vai trò người cảnh giới chân chính, muốn nêu lên
những nguyên tắc luân lý đặc biệt cho người Ki-tô hữu nói riêng,
đồng thời cũng mời gọi cả nhân loại nói chung, nhận lấy như kim chỉ
nam khi sử dụng các phương tiện Truyền Thông. Có thể ví von nội dung
này như một “cái thắng”, một thứ “đèn vàng” dè dặt cẩn trọng của
Giáo Hội trước một xu thế mới đang ào ạt phát triển, không khác gì
nhắn nhủ mọi người đừng vội liều lĩnh, đừng quá háo hức đến nỗi quên
mất những nguy cơ tiềm ẩn bên trong có khả năng xâm thực và gây tổn
thương đến luân lý.
Văn kiện viết: “Xã hội nhân loại có quyền thông tin những gì thích
hợp với con người ( ... ) tùy theo hoàn cảnh từng người. Tuy nhiên,
việc thực thi đúng đắn quyền này đòi nội dung việc Truyền Thông phải
luôn luôn xác thực mà vẫn giữ được sự công bình và bác ái, và phải
đầy đủ. Ngoài ra cách thức Truyền Thông cũng phải lương thiện và
thích hợp, nghĩa là cả trong việc săn tin lẫn loan tin, tuyệt đối
phải tuân giữ luật luân lý, các quyền lợi chính đáng và phẩm giá con
người...” ( IM, 5 )
Đó là về nội dung những gì được Truyền Thông. Còn hình thức được vận
dụng trong Truyền Thông thì sao ? Văn kiện nhắn nhủ người làm Truyền
Thông lẫn những ai đón nhận và sử dụng Truyền Thông: “...Công Đồng
tuyên bố mọi người phải tuyệt đối tuân giữ quyền ưu tiên của lãnh
vực luân lý khách quan, bởi đây là lãnh vực độc nhất trổi vượt và
phối hợp một cách thích đáng với mọi lãnh vực khác của hoạt động con
người, kể cả nghệ thuật...” ( IM, 6 )
Còn về hiệu quả tác động của việc Truyền Thông, văn kiện căn dặn:
“...Để khỏi làm hại hơn là làm ích cho các tâm hồn, các hoạt động
Truyền Thông phải tuyệt đối tuân theo luật luân lý, nhất là nếu đề
cập đến những vấn đề đòi phải được kính trọng tương xứng, hay đề cập
đến những gì dễ khích động dục vọng xấu xa của con người đã mang vết
tội tổ tông.” ( IM, 7 )
Riêng đối với giới trẻ và phụ huynh, Công Đồng bày tỏ mối quan tâm
đặc biệt: “Phải lo tập cho quen điều độ và kỷ luật trong việc dùng
những phương tiện này. Ngoài ra họ cũng phải cố gắng thấu hiểu sâu
xa hơn những điều họ thấy, nghe và đọc được ( ... ) Còn bậc phụ
huynh thì phải nhớ mình có bổn phận tận tâm coi sóc kẻo những thứ
trái nghịch với Đức Tin, trái thuần phong mỹ tục, lọt vào ngưỡng cửa
gia đình...” ( IM, 10 )
Còn về phía nhà nước, với quyền lực chỉ huy và điều phối mọi hoạt
động Truyền Thông trong từng quốc gia, văn kiện không úp mở gì cả,
cứ nói mạnh và nói thẳng: “...Chính quyền có bổn phận phải bênh vực
và bảo đảm sự tự do đích thực và chính đáng của việc thông tin, sự
tự do mà xã hội ngày nay rất cần để tiến bộ, nhất là những gì thuộc
về báo chí. Chính quyền cũng có bổn phận nâng đỡ tôn giáo, văn hóa,
nghệ thuật chân chính, và phải bảo đảm sao cho những người sử dụng
có thể tự do hưởng thụ quyền lợi chính đáng ( ... ) Chính quyền phải
xem xét công minh và cẩn thận bằng cách ban hành luật lệ và thi hành
nghiêm chỉnh, đừng để những phương tiện này bị lạm dụng mà gây thiệt
hại nặng nề cho thuần phong mỹ tục và sự tiến bộ xã hội. Xem xét cản
thận như thế không phải là đàn áp tự do cá nhân hay đoàn thể...” (
IM, 12 )
2. Hướng dẫn ứng dụng:
Ở nội dung thứ hai này của Sắc Lệnh “INTER MIRIFICA”, Giáo Hội tỏ ra
thức thời đến mức không ngờ khi thúc đẩy con cái mình bằng những lời
khuyến khích, thậm chí, thúc đẩy cấp bách việc tổ chức ứng dụng
Truyền Thông nhanh, sâu, xa, và rộng vào sứ mạng loan báo Tin Mừng.
Chúng ta lại có thể mượn tạm hình ảnh một “đông cơ” tuy ít mã lực,
nhưng đã nổ máy và muốn phải khởi hành ngay, bừng bừng khí thế, bật
“đèn xanh” cho trung ương Roma lẫn cho các Giáo Hội địa phương, từ
Giám Mục đến Giáo Dân, mỗi cá nhân và các đoàn thể hiệp hội, hãy
nhanh chóng nhập cuộc, hãy biết mạnh dạn đề ra các sáng kiến và tận
dụng khả năng sẵn có đừng để chậm chân hơn nữa mà nhỡ chuyến tầu
Truyền Thông của thời đại.
Chúng ta hãy cùng đọc: “Mọi con cái Giáo Hội phải đồng tâm hiệp lực,
chẳng những không ngần ngại mà phải hết sức hăng say, sử dụng ngay
những phương tiện Truyền Thông Xã Hội một cách đắc lực vào các công
việc Tông Đồ khác nhau tùy theo những đòi hỏi cụ thể của hoàn cảnh
và thời gian...” (IM, 13)
Với các vị lãnh đạo các cấp trong Giáo Hội, phải sớm “khai hỏa” một
chương trình Truyền Thông, hay ít ra cũng rộng tay “chúc lành” mà
khuyến khích cổ võ cho những sáng kiến tự phát, những việc đã và
đang tiến hành từ phía “bề dưới” lâu nay mà chưa thông qua các Đấng
Bề Trên. Công Đồng dạy: “Các Chủ Chăn đáng kính phải cấp tốc chu
toàn phận vụ mình trong lãnh vực này, vì nó liên hệ chặt chẽ với
nhiệm vụ thông thường của các ngài là giảng dạy”. ( IM,13 )
Còn về phía hàng ngũ đông đảo người Giáo Dân thì khi: “...tham gia
vào việc sử dụng những phương tiện này cũng phải cố gắng làm chứng
về Chúa Ki-tô, trước hết bằng cách hoàn tất mọi công tác cho thành
thạo với tinh thần Tông Đồ, rồi tùy khả năng kỹ thuật, kinh tế, văn
hóa và nghệ thuật mà trực tiếp trợ giúp hoạt động Phụng Vụ của Giáo
Hội theo phận vụ của mình.” ( IM, 13 )
Muốn có được sức mạnh tổng hợp này, cái mà chúng ta quen gọi bây giờ
là “nội lực”, cần phải hòa điệu ăn khớp nhịp nhàng từ dưới lên trên
theo sơ đồ Kim Tự Tháp đảo ngược – một hình tượng mới của Giáo Hội
kể từ Vatican 2, văn kiện chỉ rõ các nhiệm vụ thiết yếu phải làm của
các Chủ Chăn: “Trước hết, phải huấn luyện Giáo Dân vững chắc về giáo
thuyết và phong hóa, bằng cách tăng thêm số trường học, phân khoa và
học viện, để các người làm Truyền thông và những người liên hệ có
thể được huấn luyện đầy đủ, thấm nhuần tinh thần Ki-tô giáo, nhất là
Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội...” ( IM, 15 )
Về phía người sử dụng và hưởng thụ các phương tiện Truyền Thông cũng
“cần phải được huấn luyện về lý thuyết và phần thực hành một cách
thích hợp và riêng biệt, vì thế, trong các trường Công Giáo thuộc
mọi cấp, trong các Chủng Viện và trong cả những nhóm Tông Đồ Giáo
Dân, phải cổ võ, tăng gia và luôn tuân theo nguyên tắc luân lý Ki-tô
giáo, hướng dẫn các tổ chức có khả năng theo đuổi mục đích này, nhất
là những tổ chức dành riêng cho Giới Trẻ. Để mau đạt tới kết quả,
lớp Giáo Lý cũng phải có phần trình bày và giải thích giáo thuyết và
quy luật Công Giáo về vấn đề này.” ( IM, 16 )
Như để khẳng định xu thế không thể đảo ngược này, Công Đồng nói rất
mạnh rằng: “Thật đáng hổ thẹn cho con cái Giáo Hội, đã lãnh đạm ( về
lãnh vực này ) khiến cho việc rao giảng Ơn Cứu Rỗi bị ràng buộc, cản
trở vì lý do kỹ thuật hay tài chánh ( ... ), vốn là đặc tính của
những phương tiện Truyền Thông Xã Hội” ( IM, 17 )
Một khi đã kiên quyết như thế, Giáo Hội Trung Ương ở Rô-ma cũng như
ở cấp độ các Giáo Phận địa phương cũng phải làm gương trước tiên:
“Để thi hành bổn phận mục vụ tối cao về những phương tiện Truyền
Thông Xã Hội, Đức Giáo Hoàng có một Ủy Ban riêng của Tòa Thánh. Các
Giám Mục thì có bổn phận chăm sóc các công cuộc và các tổ chức thuộc
loại này trong Giáo Phận mình... Các ngài phải cổ võ, và nếu liên
quan đến việc Tông Đồ chung, thì phải phối hợp chúng, kể cả những tổ
chức thuộc quyền điều khiển của các Dòng Tu miễn trừ...” ( IM, 19 và
20 )
Và sau đó Công Đồng quyết định và truyền phải nhanh chóng thành lập
các cơ quan ở bình diện quốc gia về Truyền Thông Xã Hội, vận hành
dưới sự chỉ đạo của Ủy Ban Giám Mục ở mỗi nơi, đặc biệt phải có cả
các Giáo Dân là chuyên viên tham dự trong những Ủy Ban này. Rộng lớn
hơn, ở bình diện quốc tế, Tòa Thánh sẽ chuẩn nhận những Hiệp Hội
Công Giáo Quốc Tế thuộc Vatican, để phối hợp ăn ý nhịp nhàng với các
tổ chức cấp quốc gia. ( x. IM, 21 và 22 )
Cuối cùng, để kết luận, Công Đồng tỏ ra “tin tưởng rằng mọi con cái
Giáo Hội sẽ tự nguyện đón nhận và cẩn thận gìn giữ những giáo huấn
và tiêu chuẩn trong Sắc Lệnh này, như thế, khi sử dụng những phương
tiện Truyền Thông Xã Hội, họ không bị thiệt hại; cũng như muối và
ánh sáng, họ ướp trái đất và soi sáng thế gian. Ngoài ra Công Đồng
mời gọi mọi người thiện chí, nhất là những người điều khiển các
phương tiện trên, hãy chăm lo quy hướng về mục tiêu duy nhất là giúp
ích cho xã hội loài người, vì vận mệnh của cả nhân loại ngày càng lệ
thuộc vào việc sử dụng đúng đắn những phương tiện này...” ( IM, 24 )
Vừa “đèn vàng”, lại vừa “đèn xanh”, vừa nhấp thắng kềm hãm, lại vừa
muốn nhấn ga lao tới, như thế có mâu thuẫn, có e rằng sẽ triệt tiêu
lẫn nhau để rồi giẫm chân tại chỗ chăng ? Thực tế cho thấy cả hai
nội dung này không làm trở lực cho nhau nhưng lại trợ lực hết sức ăn
ý cho nhau. Không “đèn đỏ” là điều chắc chắn rồi ! Cũng dứt khoát
không khoanh tay ngồi một chỗ để theo dõi xét đoán, thậm chí để lên
án như đã từng xảy ra trong quá khứ lịch sử ! Ngược hẳn lại, xu thế
từ nay là tiến tới phía trước. Ai dám chê Giáo Hội là Bà Mẹ Già bảo
thủ ? Chỉ có thể nhận định rằng Giáo Hội rất thức thời mà khôn ngoan,
cũng không thiếu quả cảm khi quyết định nhập cuộc ngay. Hoan hô Công
Đồng Vatican 2 !
Thế rồi thời gian trôi qua, đến nay, bước sang thế kỷ 21, Công Đồng
đã vào tuổi trung niên, trong khi các tiến bộ Khoa học kỹ thuật thì
lại vùn vụt lướt tới với một gia tốc chóng mặt, đặc biệt là cuộc
cách mạng Tin Học thì không còn kịp mô tả và phân tích nữa, người ta
đang còn sơ kết dở dang các thành tựu mới thì những thành tựu mới
hơn đã khiến cái mới trước đó thành lạc hậu, không còn cần phải nhắc
đến nữa, họa chăng là để đối chiếu sự cách biệt chênh lệch để thấy
cái mới nó ghê gớm đến mức nào.
III. VẬY, INTERNET LÀ GÌ ?
Thiết tưởng, đến đây, trước khi tìm hiểu quan điểm của Giáo Hội về
INTERNET, chúng ta cũng cần tổng hợp các đường nét làm nên bức chân
dung của INTERNET ngày hôm nay. Cái mà gần 40 năm về trước, Sắc Lệnh
“INTER MIRIFICA” còn xếp vào loại “những thứ khác tương tự...” nay
đã có một tên gọi đàng hoàng mang tính toàn cầu: INTERNET.
1. Một vài nét lịch sử ngắn gọn của
INTERNET:
Thuở ban đầu, người ta phát minh ra máy điện toán có chứa một ổ dĩa
cứng (hard disk vận hành dựa trên hệ nhị phân ( binary system
) tức là có tín hiệu (số 1) hay không có tín hiệu (số 0) đi qua mạch
điện xử lý các dữ liệu gửi đi hay nhận về. Máy điện toán thì khổng
lồ và phức tạp kinh khủng, còn ổ dĩa cứng thì giá đắt không thể
tưởng tượng, chỉ có những nước cực giàu như Mỹ mới kham nổi.
Đến khi những cải tiến kỹ thuật nhanh chóng làm cho cả bộ máy nhỏ
dần đi và ổ dĩa cứng giảm giá lần lần, người ta nghĩ đến chuyện nối
các máy điện toán lại với nhau làm thành một mạng lưới ( Network ).
Năm 1960, bộ Quốc Phòng Mỹ cho phép lập ra các mạng phi quân sự tại
một số Viện Đại Học lớn cỡ Harvard, MIT, UCLA, một số các công ty
khổng lồ và một số các cơ quan đầu ngành quan trọng, các mạng này
được kết nối với mạng ARPA ( Advanced Researched Projects Agency:
Cục Kế Hoạch Nghiên Cứu Cấp Cao ) của bộ Quốc Phòng để có thể tiếp
nhận những thông tin khoa học kỹ thuật mới nhất. Đây mới chỉ là một
thứ mạng nội bộ trong nước Mỹ, gọi là ARPANET 3. Dù vậy, trở ngại
chính vẫn là mỗi mạng lại sử dụng một ngôn ngữ lập trình riêng. Phải
chờ đến năm 1973, Vinton Cerf và Bob Khan, hai nhà nghiên cứu Tin
Học xuất chúng đã tìm được một ngôn ngữ chung để kết nối các mạng
với nhau. 4
Thập niên 70 – 80 của thế kỷ 20, các nước tiên tiến khác bắt đầu
đuổi kịp Mỹ, mạng lưới được tỏa ra khắp nơi và bắt đầu được gọi là
INTERNET với những phần mềm ( soft ware ) cho phép truy cập vào mạng
một cách dễ dàng và tha hồ lang thang dạo chơi. Đến năm 1993, thì
người ta biết đến một quy mô mạng khổng lồ của toàn cầu gọi là WORLD
WIDE WEB ( www ) được chuyển tải nhờ một modem nối qua đường điện
thoại.
2. Bốn nét đặc trưng chính yếu của
INTERNET:
* Một thứ Truyền Thông đa phương tiện ( Multi Media ) kết hợp được
cả 3 ngành Truyền Thông đã có lâu nay: báo chí ( văn bản ) lẫn Tivi
( hình ảnh ) và Radio ( âm thanh ).
* Một phương tiện Truyền Thông có thể qua lại 2 chiều giữa người
truyền đi và người nhận, phá vỡ được thế đơn phương độc thoại.
* Một phương tiện Truyền Thông có tốc độ gần như tức thời nhờ chuyển
tải qua đường dây cáp quang điện thoại và có giác độ toàn cầu nhờ hệ
thống vệ tinh nhiều tầng trên không gian.
* Một phương tiện Truyền Thông vượt qua mọi biên giới mà các phương
tiện khác bị giới hạn do ngăn trở khách quan ( địa lý ) hoặc chủ
quan ( chính quyền cấm đoán, hoàn cảnh phát triển yếu kém, chiến
tranh... ).
Cứ thế, INTERNET ngày một mạnh hơn, nhanh hơn, xa hơn, nhiều hơn, rẻ
hơn, đẹp hơn, hấp dẫn hơn và cũng... nguy hiểm hơn, trong khi kích
thước của thiết bị thì lại tỷ lệ nghịch: một cái máy điện toán ở
thập niên 60 – 70 to bằng cả căn nhà lầu thì đã giảm dần xuống, cho
đến khi có thể để gọn trên một cái bàn làm việc, trông như một màn
hình Tivi, rồi bằng cái cặp táp học sinh, và rồi thì chỉ còn bằng
lòng bàn tay em bé, như một món đồ chơi, mỏng dẹp, nhẹ tênh, bỏ lọt
vào túi áo túi quần, cầm đi đâu cũng được mà lại bao gồm đủ thứ chức
năng và công cụ để làm việc, để liên hệ, để giải trí nữa chứ !
Thú thật là dân Việt Nam chúng ta đã bị “mù thông tin” trong suốt
mấy thập niên liền sau năm 75, đến khi mở cửa, nhìn ra thế giới mới
giật mình. Lại còn mất thêm một thập niên nữa để lẽo đẽo chạy theo
sau những tiến bộ về Truyền Thông. Đến khi tạm “xóa mù vi tính” thì
mới đó còn trầm trồ xuýt xoa với một CPU 286, quay đi ngoảnh lại đã
có 386, 486... Năm 1996, một Linh Mục nào có được Pentium 1 thì đã
tưởng là ghê lắm, tốc độ xử lý ào ào, dung lượng lưu trữ như cả một
cái tủ sách gia đình, rồi phình ra bằng một thư viện, rồi bây giờ
thì ngang với một văn khố... Ấy vậy mà mới chỉ vỏn vẹn có vài năm,
bây giờ Pentium 4 đã thành chuyện thường ngày ở... các Giáo Xứ, ở
các Tu Viện ! Sau nữa sẽ là gì đây ? Không ai dự đoán nổi, hay nói
đúng hơn, không dự đoán kịp !
Và song song với đà tiến triển vũ báo ấy, đã có không ít lời cảnh
báo, sử dụng các phương tiện Truyền Thông khác nhau, được phóng lên
ở mức độ toàn cầu. Không cảnh báo sao được khi mà hậu quả xấu gây
nên bởi INTERNET cũng không kém gì hiệu quả tốt của nó đã đóng góp
cho nhân loại.
Liên tiếp những văn kiện mới của Giáo Hội được tung ra, đặc biệt
trong năm 2002 này với tiếng nói của Hội Đồng Giáo Hoàng về Truyền
Thông Xã Hội, qua 2 tài liệu: ĐẠO ĐỨC TRONG INTERNET 5 ( Ethics in
Internet, EI ) và GIÁO HỘI VÀ INTERNET ( The Church and Internet, CI
). Đến tháng 5 vừa qua, nhân Ngày Quốc Tế Truyền Thông lần thứ 36,
Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô 2 lại gửi thêm một sứ điệp. Chúng ta
hãy lần lượt lắng nghe và ngẫm nghĩ xét suy...
IV. ĐẠO ĐỨC TRONG INTERNET 5
Với 18 số, in giấy A4 thì được tròn 6 trang với corps chữ 10 bình
thường của font VNI Helve, văn kiện này được Đức Tổng Giám Mục John
Foley, chủ tịch Hội Đồng Giáo Hoàng về Truyền Thông Xã Hội, và Linh
Mục thư ký Pierfranco Pastore, chấp bút, ban hành ngày 22.2.2002 tại
Vatican. Xin được đọc thay mọi người và tóm tắt, và cũng xin phép
được bình giải đôi chút theo cách nhìn hết sức cố gắng khách quan
của người viết. Dàn ý theo đúng khung có sẵn của văn kiện.
1. Dẫn nhập:
Trong 6 số của phần mở đầu này, như mọi khi, Giáo Hội tỏ ra lo lắng
về mặt đạo đức trước các tiến bộ của các phương tiện Truyền Thông Xã
Hội nói chung hiện nay:
“Ngày nay không cần vận dụng trí tưởng tượng xa vời cũng có thể hình
dung trái đất như một quả cầu nối kết, vo ve với những chuyển dịch
điện tử – một hành tinh líu lo được bọc trong bề ngoài tĩnh lặng của
không gian. Câu hỏi thuộc phạm vi đạo đức là liệu rằng điều này có
đóng góp vào sự hình thành nhân bản thực sự và giúp cá nhân cũng như
các dân tộc nên đúng như phẩm giá cao trọng của họ không. Và, cố
nhiên, trong nhiều khía cạnh, câu trả lời là có. Những phương tiện
truyền thông mới là những khí cụ mạnh mẽ cho giáo dục và cho sự
phong phú văn hóa, cho hoạt động thương mại và sự tham gia chính trị,
cho đối thoại giữa các nền văn hóa và cho sự hiểu biết; và như chúng
tôi nêu ra trong văn kiện đính kèm, chúng cũng phục vụ mục đích tôn
giáo. Tuy nhiên, đồng tiền này còn một mặt nữa. Các phương tiện
truyền thông có thể được dùng cho lợi ích của cá nhân và cộng đồng
thì cũng có thể được dùng để khai thác, gây ảnh hưởng, thống trị và
làm băng hoại.” ( EI, 2 )
Sau đó, Giáo Hội cho biết, với văn kiện này “muốn đưa ra một quan
điểm Công Giáo về INTERNET, như là một khởi điểm cho sự tham gia của
Giáo Hội trong cuộc đối thoại với những thành phần khác trong xã hội,
đặc biệt với những nhóm tôn giáo khác, liên quan đến sự phát triển
và sử dụng khí cụ kỹ thuật diệu kỳ này. Hiện nay, INTERNET đã được
đưa vào sử dụng tốt đẹp trong nhiều lãnh vực, với lời hứa hẹn sẽ còn
mang lại nhiều lợi ích hơn nữa, nhưng cũng có những tai hại gây ra
do việc sử dụng không thích đáng. INTERNET sẽ là tốt hay xấu phần
lớn là vấn đề lựa chọn – với những ai đang cân nhắc lựa chọn, Giáo
Hội mang đến hai yếu tố quan trọng: cam kết của Giáo Hội đối với
phẩm giá con người và truyền thống khôn ngoan về luân lý đã có từ
lâu.” ( EI, 2 )
Vậy là đã rõ: “Rằng hay thì thật là hay...” nhưng vẫn có đó những
cái “ngậm đắng nuốt cay” cho phẩm giá con người. Con dao của các
Phương tiện Truyền Thông, một lưỡi thì bén nhọn để xẻ, để cắt, để
vạch ra những chân trời mới mở toang tưởng như đến vô cùng, những
còn một lưỡi nữa thì lại chọc, lại đâm, lại xé nát nhiều tâm hồn,
nhiều mảnh đời. Và Giáo Hội không thể không cho thấy vai trò truyền
thống của mình là ngọn đuốc “khôn ngoan về luân lý” rất đáng cho cả
nhân loại lắng nghe để giữ mình, để kịp tìm lại chính mình.
Văn kiện khẳng định ngay một nguyên tắc căn bản: “Con người nhân bản
và cộng đồng nhân bản là cùng đích và là sự đo lường việc sử dụng
các phương tiện truyền thông xã hội; Truyền Thông phải là từ con
người đến con người cho sự phát triển tổng thể của con người" ( EI,
3 ). Một khi INTERNET cùng với các phương tiện Truyền Thông đại
chúng khác đã đạt đến tiến trình toàn cầu hóa, nghĩa là đẩy mạnh
vượt bực sự tăng trưởng về kinh tế, quyền lực của chính trị và giao
lưu về văn hóa đa quốc gia, đa dân tộc, thì đồng thời, trong vòng
xoáy của tham vọng, của đam mê đến mức lộ ra cái dã tâm vị kỷ, tàn
bạo, chúng cũng đương nhiên là công cụ cho những xu hướng dẫn đến
“tình trạng nhiều người bị đẩy ra lề đường: thất nghiệp trong nhiều
quốc gia phát triển cao và nạn nghèo đói tột cùng trong quá nhiều
quốc gia Nam Bán Cầu tiếp tục gạt hàng triệu người nam nữ ra khỏi
tiến bộ và thịnh vượng". ( EI, 4 )
Giáo Hội không muốn cứ tiếp diễn mãi thảm kịch biến con người thành
những món hàng hóa đem mua bán đổi chác, thảm kịch thủ tiêu dần dần
nhiều ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số, thảm kịch vi phạm trắng
trợn đến đời sống riêng tư của cá nhân, sự an toàn và bảo mật các dữ
liệu, tác quyền phát minh của trí tuệ, và nhất là thảm kịch khiêu
dâm, kích thích hận thù về ý thức hệ và về sắc tộc. Văn kiện nói rõ:
Giáo Hội không chụp cái mũ gian ác xấu xa cho INTERNET để nhìn nó
như một nguồn gốc gây ra các thảm kịch ấy, nhưng ngược lại, muốn xem
nó như “một nguồn đem lại lợi ích cho nhân loại”. ( EI, 6 )
2. Về INTERNET:
Văn kiện dành ra 3 số để phân tích các tính năng và cấu hình kỹ
thuật của INTERNET, những cái làm nên hai mặt trái – phải của vấn
nạn: Đó là các tính năng: “Tức thời, trực tiếp, toàn cầu, phân quyền,
mạnh về giao tiếp, có thể mở rộng vô hạn về nội dung và phạm vi,
linh hoạt ( ... ) và bình quyền nghĩa là bất cứ ai với thiết bị cần
thiết và một năng khiếu kỹ thuật khiêm nhường cũng có thể hiện diện
cách tích cực trong không gian điện toán, công bố thông điệp của
mình cho thế giới, và đòi hỏi được lắng nghe. Nó cho phép các cá
nhân tham dự một cách ẩn danh, được chọn lựa vai trò, và hành động
theo trí tưởng tượng; và cũng cho phép việc gia nhập vào cộng đồng
với những người khác và dự phần vào việc chia sẻ. Theo sở thích của
người dùng, họ có thể tích cực tham gia hoặc để bị thu hút cách thụ
động vào trong một thế giới quá chú ý đến mình, tự quy chiếu về mình,
của những kích thích với những hiệu ứng ảo. INTERNET có thể được
dùng để phá tan đi sự cô lập của các cá nhân và các tập thể hay còn
khoét sâu thêm sự cô lập này.” ( EI, 7 )
Nhìn chung, INTERNET và các phương tiện Truyền Thông khác có thể
“hiệp nhất con người, nhưng cũng có thể chia rẽ họ thành những cá
nhân hay như những nhóm nghi kỵ lẫn nhau, tách biệt bởi ý thức hệ,
chính trị, của cải, chủng tộc, khác biệt thế hệ, và ngay cả tôn giáo...”
( EI, 9 )
3. Những khía cạnh đáng quan tâm:
Văn kiện dành ra 5 số để nêu lên những nét chính yếu liên quan đến
ĐẠO ĐỨC TRONG INTERNET.
Trước hết, về mặt kinh tế, INTERNET có nguy cơ đào sâu thêm cái hố
ngăn cách vốn đã quá sâu, quá rộng, quá đen tối giữa các nước giàu
và các nước nghèo, hình thành những nhóm, những tập đoàn “người giàu
thông tin” do được tiếp cận với kỹ thuật tiên tiến hiện đại, và phần
còn lại là khối lượng lớn những “người nghèo thông tin”, hay nói
đúng hơn, những người không có được quyền thông tin đi và quyền nhận
thông tin về cho mình với những nhu cầu thiết thân tối thiểu thôi.
Để phá được cái thế bất bình đẳng đáng kết án này, cần “tìm ra những
cách thức để làm cho INTERNET có thể được tiếp cận bởi những nhóm
kém thuận lợi hơn, hoặc là trực tiếp hoặc là tối thiểu qua việc liên
kết với các phương tiện truyền thông truyền thống rẻ tiền hơn. Không
gian điện toán cần phải trở thành một tài nguyên thông tin và dịch
vụ hoàn chỉnh không mất tiền cho mọi người với nhiều ngôn ngữ khác
nhau. Những cơ quan công cộng có một trách nhiệm đặc biệt để thiết
lập và duy trì những trạm thông tin như vậy” ( EI, 10 ).
Làm được điều đó, theo cách nói của văn kiện, "người thắng cuộc
trong tiến trình này là nhân loại như một tổng thể chứ không chỉ một
thế lực giàu có kiểm soát khoa học, kỹ thuật, và các nguồn tài
nguyên của hành tinh này" nghĩa là khi ấy tiến trình toàn cầu hóa sẽ
đạt được lý tưởng phục vụ mọi người chẳng trừ ai ! ( x. EI, 10 )
Vấn đề thứ hai, về mặt văn hóa, INTERNET ảnh hưởng rất sâu đậm trên
những mối quan hệ xã hội, gia đình, tôn giáo, tập quán... Nó xuất
phát hầu hết từ các nước Tây Phương mạnh về Truyền Thông nên cũng
chuyển đi những thông điệp nặng tính văn hóa thế tục của Tây Phương.
Do vậy nó có nguy cơ đè bẹp những nền văn hóa truyền thống bằng hiệu
năng mới lạ hấp dẫn, thực dụng đến mức dần dần làm mất đi sự đối
thoại, chỉ còn độc diễn, một chiều, áp đặt lối nhìn, lối nghĩ, lối
hành xử, đã cho cái gì thì chỉ biết nhận cái ấy mà thôi !
Và hậu quả thấy rõ là nó góp phần làm trầm trọng thêm cuộc khủng
hoảng về hôn nhân và gia đình trên phần thế giới còn lại, hầu hết là
các nước Đông Phương vốn đã có được một truyền thống văn hóa ngược
lại. ( EI, 11 )
Để tái lập được một con đường hai chiều giữa người làm và người đón
nhận Truyền Thông, INTERNET cần phải tìm được “sự nhạy cảm văn hóa
và sự tôn trọng đối với các giá trị và niềm tin của mọi dân tộc”, từ
đó, INTERNET mới có thể là nhịp cầu cho sự đối thoại, tạo ra sự hiệp
nhất sâu xa mà phong phú trong đại gia đình nhân loại, bảo tồn được
ý thức về tình liên đới quốc tế. ( x. EI, 11 )
Vấn đề thứ ba là chuyện tinh thần. Con người ai cũng có quyền tự do
thao thức tìm kiếm và đón nhận chân lý. Đó là nhu cầu tinh thần tối
thượng để người ta được là “người” hơn. Vì thế mà ở đây, Giáo Hội tỏ
rõ lập trường ủng hộ sự tự do phát biểu và tự do trao đổi ý kiến.
Chuyện này đụng trực tiếp đến vấn nạn INTERNET có thật sự dân chủ
hay không ? Dân chủ cho từng cá nhân, dân chủ cho mọi người. Mỗi
người đều “có quyền tìm kiếm sự thật, bày tỏ và công bố ý kiến, miễn
là tôn trọng trật tự luân lý và ích lợi chung... Mỗi người phải được
cung cấp thông tin trung thực về những vấn đề liên quan đến lợi ích
chung”.
Nhiều người hợp lại thành một công chúng, thành cả một xã hội, có
thể có chung một quan điểm, một thái độ, một đòi hỏi chân thành để
bày tỏ thông qua INTERNET như một con đường để chuyển tải, để thông
đạt và đấu tranh ( x. EI, 12 ). Do vậy, Giáo Hội cho thấy lập trường
kiên quyết lên án những thứ “bức tường lửa” ( Fire Wall ) do chính
quyền dựng lên để ngăn cản việc tiếp cận với những thông tin cần
thiết, những phát biểu hợp pháp qua INTERNET cũng như những thứ kiểm
duyệt, cắt xén, dấu nhẹm, xuyên tạc chân lý trên các phương tiện
Truyền Thông khác, chỉ vì những thông tin ấy có khả năng đe dọa, gây
khó chịu, làm lung lay thiết chế độc tài của họ. ( x. EI, 12 )
Ngoài ra, INTERNET còn cung cấp cho ngành báo chí một phương tiện
hết sức phong phú, để gần như tức thời, bằng con đường chuyển tải
cáp quang, thông tin mới nhất, rõ nét nhất có thể đến được mọi người
ở khắp năm châu. Nhưng như thế, hơn lúc nào hết, những thông tin ấy
phải trung thực và chừng mực, không chạy theo thị hiếu tầm thường,
thích chuyện giựt gân để ăn khách, tung tin đồn làm hỏa mù lạc hướng
dư luận, chen vào hàng loạt những quảng cáo khiêu dâm hoặc phỉnh gạt
quần chúng. Tất cả đòi hỏi một lương tâm nghề nghiệp trong sáng vô
vị lợi phát xuất từ thiên chức của nhà báo. ( x. EI, 13 và 14 )
4. Những đề nghị và kết luận:
Đến đây, một lời chất vấn được Giáo Hội nêu lên thẳng thừng và nhức
nhối: "Các phương tiện truyền thông đang được dùng cho điều thiện
hay điều ác ?" ( EI, 15 )
Ai sẽ phải ra “hầu tòa” lương tâm để trả lời ? Thưa, tất cả mọi
người, phía làm Truyền Thông lẫn phía thụ hưởng. Trước hết là các
tập đoàn khổng lồ đang cạnh tranh nhau trong lãnh vực Truyền Thông
để cốt đạt lợi nhuận tối đa theo kiểu cứu cánh biện minh cho phương
tiện. Kế đó là chính quyền quản lý có vai trò kiểm soát và điều phối,
lại bị mua chuộc đến mức buông lỏng kỷ cương, không áp dụng luật lệ
hợp lý để chống lại việc khích động thù hận, kỳ thị chủng tộc, nhục
mạ cá nhân, khiêu dâm, những trận đại dịch virus Tin Học. Tiếp nữa
là các cơ sở giáo dục, và nhất là các bậc phụ huynh, đã mất cảnh
giác để cho những tác hại xấu của INTERNET lọt vào tận trường học và
mái ấm gia đình. ( x. EI 15 và 16 ).
Ở tầm mức quốc tế, Giáo Hội kêu gọi một sự liên đới “đem lại cách
riêng cho hệ thống Liên Hiệp Quốc một cơ hội duy nhất để đóng góp
vào sự hoàn cầu hóa tình liên đới bằng cách phục vụ như một nơi hội
họp cho các quốc gia và xã hội dân sự và như một nơi hội tụ các quan
tâm và nhu cầu khác nhau... Sự hợp tác giữa các tổ chức quốc tế và
các tổ chức phi chính phủ sẽ giúp bảo đảm rằng lợi ích của các nước
– dù là hợp pháp – và của các nhóm khác trong các nước đó, sẽ không
được nêu ra hay bảo vệ với cái giá là sự chà đạp lợi ích hay quyền
lợi của các dân tộc khác, đặc biệt những dân tộc kém may mắn". ( EI,
17 )
Mà thiết nghĩ, nếu như Giáo Hội, trong đó các Ki-tô hữu từ Giáo Sĩ
đến Giáo Dân, không can đảm lên tiếng cảnh báo trước những hiện
tượng tiêu cực, cũng như không đóng góp phần tích cực của mình, thì
chính chúng ta cũng có trách nhiệm không nhỏ ! Văn kiện không quên
điều ấy, Hội Đồng Giáo Hoàng về Truyền Thông Xã Hội cho biết, đồng
thời với văn kiện này, còn có thêm văn kiện GIÁO HỘI VÀ INTERNET “đề
cập đặc biệt đến việc sử dụng INTERNET của Giáo Hội và vai trò của
INTERNET trong đời sống Giáo Hội”. ( EI, 18 )
Nhìn chung, văn kiện dưa ra tôn chỉ: “Truyền Thông phải là từ con
người đến với con người để phục vụ cho sự phát triển toàn diện của
con người.” Và nguyên tắc đạo đức phải được nêu cao là:
* Tôn trọng sự thật
* Đề cao nhân phẩm
* Mưu cầu thiện ích chung.
Đến đây, trước khi cùng nhau đọc văn kiện GIÁO HỘI VÀ INTERNET, xin
kể lại một câu chuyện nghe được từ Đài Phát Thanh Vatican, vừa để
minh họa cho vấn đề sẽ tiếp tục tham luận, lại cũng vừa để thay đổi
bầu khí lý luận và phân tích khá là khô khan trong nhiều trang vừa
qua...
V. TRUYỀN GIÁO BẰNG INTERNET:
Trên đất nước Hoa Kỳ, tại một thị trấn nhỏ mang tên Abiquiu, nằm lọt
thỏm giữa một vùng sa mạc hoang vu, cách thành phố Santa Fe là thủ
phủ của bang New Mexico khoảng 2 giờ lái xe, có một đan viện của
Dòng Biển-đức ( Bénédictin) mang tên Đan Viện “Chúa Ki-tô Trong Sa
Mạc”.
Năm 1964, cha Alfred Wald đã thành lập Đan Viện này, khởi đầu bằng
một ngôi nhà không có điện, cũng chẳng có đường dây điện thoại. Thế
rồi, các tu sĩ Biển-đức, vốn được mệnh danh là những nhà bác học ẩn
tu đã thiết kế những tấm bảng thu được năng lượng mặt trời, đồng
thời mở một máy phát sóng để sử dụng điện thoại di động. Và đến
tháng 4 năm 1995, nơi đây đã trở thành Đan Viện chiêm niệm đầu tiên
trên thế giới nối vào mạng INTERNET (www.christdesert.org).
Ngày nay, mỗi ngày, Đan Viện “Chúa Ki-tô Trong Sa Mạc” tiếp đón
khoảng 25.000 lượt người du hành trên INTERNET đã dừng lại thăm
viếng. Qua máy vi tính, họ có thể nghe được những bài Thánh Ca, các
bài giảng Thánh Lễ, các lời Kinh Nguyện, và đọc những tin tức về
sinh hoạt của Đan Viện, những lời chì dẫn để tìm đến các nguồn thông
tin tinh thần khác, và cả những lời khuyên cho đời sống thực hành cụ
thể.
Có hai đan sĩ đặc trách việc hồi âm những lời xin cầu nguyện của các
tín hữu từ khắp nơi trên thế giới gửi tới địa chỉ E-mail của Đan
Viện. Một đan sĩ khác, vốn là người chịu trách nhiệm phục chế tôn
tạo các thủ bản cổ trong Đan Viện, đã truyền lên mạng INTERNET những
hình ảnh đặc biệt được vẽ theo nghệ thuật truyền thống miền Tây Nam
Hoa Kỳ. Người ta ghi nhận, chỉ có một số nhỏ du khách viếng thăm Đan
Viện qua mạng thông tin INTERNET là các tín hữu Công Giáo, tuyệt đại
đa số còn lại đều thuộc các tôn giáo khác, hoặc là người không có
tín ngưỡng.
Sở dĩ Đan Viện ở Abiquiu đã quyết định dấn thân vào lãnh vực hoạt
động tông đồ đặc biệt này, là vì hồi đầu những năm 90, khi không đủ
tiền để xây dựng thêm các khu nhà và phòng ốc cho các tân tập sinh,
Đan Viện đang bó tay không biết tìm đâu nguồn tài trợ, thì một thầy
tập sinh mới là Aquinas Woodward đã mạnh dạn đề nghị một kế hoạch
táo bạo về INTERNET.
Trước đây, thầy Aquinas vốn là một chuyên viên nổi tiếng về lập
trình tin học, tuy đã bỏ mọi sự để xin theo đạo và đi tu, nhưng thầy
vẫn nuôi lòng say mê đến viễn tượng dùng mạng INTERNET để cung cấp
hình ảnh và lời nói. Vậy là, thầy đã đề nghị Bề Trên cho phép Đan
Viện được nối mạng, đồng thời thầy sẽ nhận dịch vụ lập trang chủ
INTERNET cho các Đan Viện khác, cũng như cho nhiều tư nhân trong
vùng. Thật không ngờ, chỉ trong một thời gian ngắn, tiền dịch vụ thu
được hóa ra đủ để trang trải kinh phí mở rộng Đan Viện.
Năm 1998, tại một hội nghị về truyền thông đại chúng do Giáo Hội Cải
Cách Luther tổ chức tại thành phố Wittenberg nước Đức, thầy Aquinas
đã phát biểu rằng: thầy không hề thấy có sự mâu thuẫn giữa đời sống
đan tu và các kỹ thuật tân kỳ trong lãnh vực truyền thông. Thầy nói:
“Nếu có vấn đề trong lãnh vực này, thì đó chính là việc chúng ta
phải bỏ đi cái quan niệm rằng các Đan Viện phải trở thành một món đồ
cổ. Chúng ta không nên quên rằng trong quá khứ, các đan sĩ chính là
những người đi tiên phong trong lãnh vực văn hóa, khoa học và kỹ
thuật.”
Thầy Aquinas còn khẳng định: hiện diện trên mạng INTERNET là một
loại công việc thích hợp với các đan sĩ, giống như ngày xưa họ đã
đảm nhận việc trang trí các sách Kinh Thánh, không hề ảnh hưởng tới
việc cầu nguyện và học hỏi trong Dòng. Việc sử dụng các kỹ thuật tân
kỳ không phải là điều đi ngược với ơn gọi chiêm niệm. Nếu Đức Tin
phải được biểu lộ rõ ràng thì Đức Tin ấy phải có sức thu hút sự chú
ý và thời giờ của thiên hạ, phải có khả năng thi đua một cách trong
sáng với các công ty lớn trong lãnh vực truyền thông để thực hiện
được nghĩa vụ Tông Đồ truyền giáo đặc thù của mình...
Vậy là đã rõ, Giáo Hội đã nhập cuộc, không đến nỗi chậm chân, ngược
lại rất tự tin và khẳng khái. Chỉ tiếc là ở Việt Nam chúng ta nghe
được, biết được quá ít những chuyện hi hữu và dễ thương liên quan
đến Giáo Hội và INTERNET, đâm ra chính chúng ta, xin nói thẳng, lại
là những người tụt hậu so với Giáo Hội hoàn cầu ! Thôi thì chậm chân
nhưng không nhắm mắt bịt tai là tốt rồi. Trễ mà chịu khó bật dậy,
sớm định hướng để bắt kịp bước đi và nhịp sống của Giáo Hội, thì
chẳng ai nỡ trách cứ chúng ta. Biết đâu chúng ta đi sau lại thừa
hưởng được những kinh nghiệm khai phá quý báu của những người đã đi
tiên phong. Nói thế không phải là để tự an ủi cho đỡ tủi thân, nhưng
thật ra để thêm tự tin, thêm chững chạc để nhập cuộc, để dấn thân.
Bây giờ thì chúng ta hãy cùng nhau đọc văn kiện “GIÁO HỘI VÀ
INTERNET” ( The Church and Internet, CI ).
VI. GIÁO HỘI VÀ INTERNET 6:Tác
giả cũng vẫn là Đức Cha John Foley và cha Pierfranco Pastore chấp
bút, dài 6 trang với 12 số, ban hành cũng vào ngày 22.2.2002 tại
Vatican. Xin tuần tự đi theo khung dàn ý có sẵn của văn kiện, tuy
nhiên chúng ta sẽ lướt qua không phân tích những ý tưởng đã trình
bày ở văn kiện ĐẠO ĐỨC TRONG INTERNET.
1. Dẫn nhập:
Mở đầu, văn kiện nhắc lại chút ít về Sắc Lệnh “INTER MIRIFICA” của
Công Đồng Vatican 2, để khẳng định vai trò của INTERNET như một
phương tiện Truyền Thông Xã Hội hiện đại nhất và hiệu quả nhất hiện
nay. Từ đó, mặc dù vẫn không quên “lên án những lạm dụng nghiêm
trọng”, Giáo Hội vẫn “xem các phương tiện Truyền Thông này là quà
tặng của Thiên Chúa, mà, theo dự định quan phòng của Ngài, hiệp nhất
nhân loại trong tình huynh đệ và như thế giúp họ hợp tác với kế
hoạch của Ngài cho ơn cứu độ của họ". ( CI, 1 )
Nền tảng cho mọi định hướng của Giáo Hội về INTERNET vẫn là Tính
Cách Quy Ki-tô ( Christocentrism ). Con Người Đức Ki-tô Phục Sinh
luôn là đỉnh cao, điểm xuất phát, điểm hội tụ, tinh hoa, cốt lõi,
trung tâm cho mọi hoạt động Truyền Thông giữa con người với con
người.
Văn kiện trích dẫn một ý then chốt của Công Đồng Vatican 2, đã được
nêu lại trong bản Chỉ Dẫn Mục Vụ về các Phương Tiện Truyền Thông Xã
Hội ( Communio et Progrssio ) đã xuất bản từ năm 1971 như sau: "mặc
dù chúng ta cần phải cẩn thận phân biệt một cách rõ ràng tiến bộ
trần thế với sự tăng trưởng của vương quốc Chúa Ki-tô, tiến bộ này
nằm trong mối quan tâm thiết yếu của Nước Chúa vì nó có thể đóng góp
vào việc sắp đặt tốt hơn trật tự trong xã hội loài người. Trong khi
đánh giá các phương tiện Truyền Thông Xã Hội dưới ánh sáng này,
chúng ta thấy rằng chúng đóng góp lớn lao cho sự lớn mạnh và sự
phong phú trí tuệ con người và cho sự truyền bá và củng cố Nước Chúa".
(CI, 2)
Các phương tiện Truyền Thông nói chung ấy, đến đây được khoanh lại
và xác định ở văn kiện này, chính là INTERNET. Nếu văn kiện “ĐẠO ĐỨC
TRONG INTERNET” đã bàn đến chiều kích đạo đức của INTERNET, thì ở
đây, văn kiện “GIÁO HỘI VÀ INTERNET” sẽ xem xét những hệ quả của nó
đối với tôn giáo, và đặc biệt đối với Giáo Hội Công Giáo. Giáo Hội
muốn tỏ rõ 2 mục tiêu nhắm đến:
a. Trước hết là Giáo Hội tán thành, khuyến khích, thúc đẩy
sự phát triển của INTERNET vì lợi ích của cộng đồng nhân loại nói
chung, vì sự thăng tiến của xã hội ở từng địa phương, từng quốc gia.
INTERNET rõ ràng là góp phần tạo nên một tình liên đới, một cửa ngõ
đối thoại văn hóa, và nhất là một phương thế loan báo Tin Mừng cho
mọi dân tộc gần xa. ( CI, 3 )
b. Kế đó, quan trọng hơn, là mối quan tâm của Giáo Hội sao
cho việc Truyền Thông có sự góp mặt tích cực của Giáo Hội, một
“Truyền Thông trong và bởi chính Giáo Hội”. Văn kiện cho thấy việc
Truyền Thông này vượt lên một tầm cỡ của khoa học và kỹ thuật, vì nó
xuất phát từ một luận điểm Thần Học, một “sự hiệp thông yêu thương
giữa các Ngôi Vị Chí Thánh với nhau và việc Truyền Thông giữa các
Ngài với chúng ta ( ... ). Ngôi Con là Lời, được nói bởi Chúa Cha.
Trong và qua Đức Giê-su Ki-tô, Ngôi Lời đã hoá thành nhục thể, Thiên
Chúa Truyền Thông chính Ngài và ơn cứu độ của Ngài cho con người.”
Và rồi Giáo Hội đã tiếp nối sứ vụ Truyền Thông này cho toàn thể nhân
loại chẳng trừ ai. Chính bản thân Giáo Hội do vậy cũng là một sự
hiệp thông của từng cá nhân đối với cộng đoàn để việc Truyền Thông
trở nên nét đặc trưng tuyệt vời của Giáo Hội ( x. CI, 3)
Chính Đức Thánh Cha Phao-lô 6 trong Thông Điệp Communio et
Progressio từ hơn 30 năm trước, đã khẳng khái nhận định: “Giáo Hội
sẽ có lỗi trước mặt Chúa nếu không sử dụng các phương tiện truyền
thông cho việc truyền bá Tin Mừng !” Còn Đức Thánh Cha Gio-an
Phao-lô 2 trong Thông Điệp Aetalis Novae, thì tuyên bố rằng: "Sử
dụng các phương tiện Truyền Thông chỉ để loan truyền thông điệp
Ki-tô Giáo và huấn giáo chân thật của Giáo Hội là chưa đủ. Cần phải
hội nhập thông điệp này trong nền văn hóa mới đã được hình thành bởi
Truyền Thông hiện đại" ( CI, 4 )
Và như thế, Giáo Hội hôm nay kêu gọi người Công Giáo hãy hình dung
có một khối lượng khổng lồ những con người đang muốn, hoặc đang cần
được lắng nghe thông điệp Tình Yêu của Đức Ki-tô, do vậy chẳng có lý
do gì để lo sợ, ngần ngại trước “việc mở rộng cửa Truyền Thông Xã
Hội ra cho Đức Ki-tô, để Tin Mừng của Người có thể được nghe từ trên
mái nhà của thế giới” ( x. CI, 4 )
2. Cơ hội và thách đố:
Ở phần này, với 5 số liên tiếp, văn kiện cho thấy cái thế giới đang
bị tục hóa ngày nay, cần biết bao, thao thức biết bao được nghe công
bố, được đón nhận Tin Mừng của Đức Ki-tô, để từ đó Tin Mừng sẽ mở ra
một con đường giải thoát cho mọi người đang là nạn nhân của cái thế
giới ấy, đặc biệt là những bạn trẻ, những người đang sử dụng
INTERNET một cách thành thạo hơn ai hết, và cũng chính là đối tượng
INTERNET nhắm tới nhiều hơn hết.
Đi vào chi tiết hơn, về mặt tôn giáo, INTERNET mỗi ngày đều có thể
chuyển đến những ai quan tâm tất cả mọi tin tức mới nhất, những
thông tin về các biến cố tôn giáo, các ý lực sống Tin Mừng, các
chứng tá sống động và cụ thể về Đức Tin. Hơn thế nữa, những người
ngồi ở nhà, tại một nơi hẻo lánh vẫn có thể truy cập vào các thư
viện, các văn khố để tìm đọc, nghiên cứu, suy niệm và cầu nguyện với
các văn kiện Công Đồng, các giáo huấn của Hội Thánh, các bài khảo
luận của các nhà Thần Học về mọi ngành. Người truy cập còn có thể
gửi E-Mail hoặc đối thoại trao đổi trực tiếp với những người cùng
chí hướng tông đồ ở khắp nơi.
INTERNET phục vụ đắc lực cho công cuộc rao giảng Tin Mừng hoặc tái
rao giảng Tin Mừng cho những ai đang thao thức tìm kiếm. Tuy không
phải là phương thế giao tiếp mặt đối mặt giữa con người với nhau
trong cùng một khung cảnh và bầu khí, nhưng INTERNET vẫn có thể giúp
trình bày các nội dung Giáo Lý, tư vấn mục vụ, đồng hành thiêng
liêng, mời gọi và hướng dẫn mọi người đến với Phụng Vụ của Giáo Hội,
làm cho đời sống Đạo thêm sinh động và phong phú, liên kết các thành
viên trong một nhóm, một đoàn thể, tạo lập được những mối giao lưu
giữa người bạn trẻ, những người già, những người bệnh tật, những
người ở các miền xa xôi... Có thể xa mặt mà vẫn không bị cách lòng,
không cảm thấy bị lạc lõng bỏ rơi.
Các Giáo Phận, các Giáo Xứ, các Dòng Tu và các cơ quan khác nhau giờ
đây có thể tương thông hỗ trợ nhau, và nhất là có thể nối kết với
Giáo Hội toàn quốc và toàn cầu, để định hướng, phác họa, khởi động,
quản trị, điều phối và nuôi dưỡng các chương trình mục vụ và tông đồ...
( x. CI, 5 )
INTERNET là một kỹ thuật hoàn toàn mới và không ngừng mới hơn nữa.
Nhờ nét đặc trưng là Truyền Thông qua lại hai chiều, INTERNET thiết
lập được mối tương quan đối thoại và thông tin ngay trong nội bộ
Giáo Hội, giữa các mục tử và con chiên, giữa các thành viên trong
một cộng đoàn với nhau, người ta có thể tự do phát biểu, mạnh dạn đệ
đạt hoặc thẳng thắn góp ý phê bình trong yêu thương và xây dựng. Nhờ
vậy, cái mà lâu nay vẫn được gọi là đồng cảm, là hòa chung một nhịp
đập trong Giáo Hội ( Sentire cum Ecclesia ) bỗng dựng trở thành hiện
thực dễ thương và gần gũi trong tầm tay và bàn phím vi tính ! ( x.
CI, 6 )
Việc giáo dục và huấn luyện từ xa cũng có thể được Giáo Hội áp dụng
để mang lại cho mọi người những kiến thức học hỏi, những tiêu chuẩn
luân lý, định hình các phán đoán của lương tâm, chí hướng làm việc
Tông Đồ hoặc Ơn Gọi cho cuộc đời Giáo Dân, đào tạo Chủng Sinh,
thường huấn cho các Linh Mục, tĩnh tâm cho các Tu Sĩ nam nữ, trang
bị thêm vốn liếng sống Đạo cho các các bậc cha mẹ, con cái, thầy cô
giáo, học sinh và các người làm trong các ngành nghề khác có tương
quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến con người.
Các bạn trẻ được Giáo Hội đặc biệt khuyến khích “không phải chỉ để
trở nên người Ki-tô hữu tốt khi họ là những người tiếp nhận Truyền
Thông nhưng còn phải trở nên tích cực trong việc sử dụng tất cả các
trợ giúp Truyền Thông nằm trong các phương tiện Truyền Thông Đại
Chúng... Nhờ thế, những người trẻ sẽ là những công dân thực sự của
thời đại Truyền Thông Xã Hội đã bắt đầu" ( CI, 7 ).
Tất cả những điểm nêu trên là cơ hội do INTERNET đem đến, nhưng còn
những thách đố thì sao ? Văn kiện không che giấu một thực tế rằng:
“Thế giới truyền thông có thể đôi khi thờ ơ hay ngay cả thù địch với
Đức Tin và luân lý Ki-tô Giáo. Điều này một phần do bởi văn hóa
Truyền Thông đã tiêm nhiễm quá đậm một ý tưởng tiêu biểu của thời
hậu hiện đại, theo đó sự thật duy nhất tuyệt đối là không có sự thật
tuyệt đối, hay, nếu có những sự thật như thế, thì chúng không thể
tiếp cận với lý trí nhân loại và do đó không có liên quan gì đến
nhân loại !” ( CI, 8 )
Khắp nơi vẫn có đó, đầy rẫy những Web Site chuyên công kích, vu cáo,
mạ lỵ Công Giáo. Ngoài ra cũng không thiếu những Web Site khác, tuy
tự xưng là tiếng nói của Công Giáo nhưng lại bộc lộ những động cơ
không lành mạnh cho ý đồ riêng của họ, một thứ gây nhiễu, một loại
ngôn sứ phản Ki-tô ( x. CI, 8 ). Mặt khác, văn kiện nhấn mạnh: “Thực
tại ảo của INTERNET không thể thay thế cho sự Hiện Diện Thật Sự của
Đức Ki-tô trong Thánh Thể, cho thực tại Bí Tích của các Bí Tích khác,
và cho việc chia sẻ thờ phượng trong một cộng đoàn nhân loại máu
thịt. Không có Bí Tích nào trên INTERNET cả !” ( CI, 9 ) Không có gì
có thể gạt bỏ vai trò của những giao tiếp trong thế giới thực giữa
những anh chị em cùng một Đức Tin.
Trước những thách thức công khai và ngấm ngầm đó, Giáo Hội thấy rằng
cần phải “tìm kiếm và nghiên cứu tiếp tục, bao gồm cả "sự phát triển
của một ngành Nhân Loại Học và Thần Học về Truyền Thông, với quy
chiếu đặc biệt đến INTERNET...” ( x. CI, 9 )
3. Những đề nghị và kết luận:
Phân tích mọi mặt rồi, văn kiện nói rất thẳng và rất mạnh: “Mọi
người ở mọi cấp của Giáo Hội cần dùng INTERNET cách sáng tạo để chu
toàn bổn phận của họ và giúp Giáo Hội thực thi sứ mạng của mình. Lui
lại một cách nhút nhát vì sợ kỹ thuật hay vì lý do khác là không thể
chấp nhận, khi tính đến những khả năng rất tích cực của INTERNET” (
CI, 10 ).
Cuối cùng, trong 2 số liên tiếp khá dài, văn kiện đưa ra những lời
khuyến khích, có thể ngầm hiểu là các chỉ thị tích cực, cho tất cả
mọi Ki-tô hữu từ các nhà lãnh đạo Giáo Hội, các nhà giáo dục, các
Giáo Lý Viên, phụ huynh, thiếu niên và các bạn trẻ, cho cả những
người thiện chí. Chung chung là việc phải mau chóng tiếp cận và vận
dụng phương tiện INTERNET cho hoạt động mục vụ và tông đồ, cho việc
công bố Tin Mừng Đức Ki-tô cho thế giới đang khao khát một lẽ sống
đích thực, khao khát gặp được một Ngôi Vị Thiên Chúa tối cao nhưng
lại gần gũi, đang đồng hành với họ trên mọi nẻo đường cuộc sống hôm
nay ( x. CI, 11 ).
Văn kiện cũng không quên đề ra một số đức tính cần có để có thể làm
và sử dụng tốt INTERNET:
* Thận trọng để biện phân thiện – ác, đồng thời đáp trả được với các
cơ hội và thách đố.
* Công bằng để lấp đầy mọi hố sâu ngăn cách giữa quá giàu với quá
nghèo thông tin.
* Dũng cảm để luôn sẵn sàng bảo vệ chân lý, xả kỷ vị tha và vượt qua
cám dỗ nhục dục và bạo lực.
* Tự chế để không bị lạm dụng bởi đam mê, nhưng là biết tận dụng cho
thiện ích ( x. CI, 12 )
VII. NHỮNG ỨNG DỤNG INTERNET TRONG GIÁO HỘI:
Ở phần này, chúng tôi xin trích một bài báo trên VietCatholic với
nhiều sự kiện và con số lý thú 8:
Trường Đại Học Mỹ Châu ( American University ) là nơi đầu tiên cung
cấp dịch vụ thông tin Công Giáo khi tập hợp lại các bài diễn thuyết
của các Đức Thánh Cha, các bài viết của hàng Giáo Phẩm và các tài
liệu giáo huấn của Giáo Hội và mở ra cho mọi người có thể truy cập
nghiên cứu và sao chép.
Năm 1992, văn phòng Giáo Phận Raleigh, North Carolina đã bắt đầu sử
dụng E-Mail. Trong năm 1993, Jeff Mirus đã lắp đặt tại Manassas,
Virginia mạng Tài Nguyên Công Giáo ( Catholic Resource Network –
CRNET ) như là một hệ thống cung cấp thông tin Công Giáo toàn cầu.
Mạng CRNET giới hạn trong việc cho phép người lấy xuống ( download )
hoặc đưa lên các tập tin ( upload ).
Năm 1994 được đánh dấu như là thời điểm nở rộ các dịch vụ thông tin
Công Giáo trên INTERNET: hàng chục quốc gia đã có dịch vụ thông tin
Công Giáo.
Tháng 12 năm 1995, dịch vụ INTERNET của Vatican chính thức hoạt động.
Mọi người trên thế giới đã có thể qua máy vi tính, đọc được những
bài diễn văn của Đức Giáo Hoàng bằng nhiều thứ tiếng khác nhau. Họ
cũng tìm thấy thông qua dịch vụ này những tin tức hằng ngày về hoạt
động của Toà Thánh, và rất nhiều những tài liệu quan trọng trong thư
khố của Vatican.
Cuối năm 1999, INTERNET của Tòa Thánh đã tiến triển đến mức đủ khả
năng phát trực tiếp những nghi lễ quan trọng trong Năm Thánh như
nghi thức mở Cửa Thánh hôm 24.12.1999, lễ khai mạc và bế mạc Đại Hội
Giới Trẻ Thế Giới tại Rô-ma năm 2000... cho hàng trăm triệu người sử
dụng máy điện toán trên toàn thế giới. Khả năng của các chuyên gia
điện toán trong mạng INTERNET của Tòa Thánh đã đạt đến mức toàn thế
giới điện toán phải kính nể, ngả mũ chào khi mạng lưới này cho phép
hàng trăm triệu người cùng một lúc nối vào mạng của Tòa Thánh. Những
Web Site lớn như Microsoft, thông thường cũng chỉ có vài chục ngàn
người nối vào cùng một lúc.
Bên cạnh dịch vụ INTERNET của Toà Thánh Vatican, tính cho đến nay đã
có hằng chục ngàn những địa chỉ thông tin Công Giáo trên INTERNET
cung cấp những dịch vụ rất đa dạng: suy niệm Lời Chúa, diễn giải
Kinh Thánh, hỏi đáp để sống đạo, khuyến khích ơn gọi, phổ biến lòng
sùng kính Đức Mẹ, những gương sáng của các Thánh, truyền bá Tin Mừng,
cung cấp tài liệu, đưa ra những chỉ dẫn cần thiết cho những ai đang
thành tâm tìm kiếm Chúa, bảo vệ Đức Tin Công Giáo, đấu tranh cho tự
do tôn giáo và nhân quyền, bảo vệ quyền sống của thai nhi, tin tức
Công Giáo khắp nơi trên thế giới, thánh ca và các họa phẩm Công Giáo...
Tính đến cuối năm 2000, đã có hơn 100 quốc gia có dịch vụ thông tin
Công Giáo trên INTERNET. Ở nhiều nước như Mỹ, Úc, Anh, Pháp, Đức...
các Giáo Phận, các trường đại học, trung học, thậm chí nhiều Giáo Xứ
và nhiều Dòng Tu cũng đã có mặt trên INTERNET.
Theo thống kê mới nhất, tính đến cuối năm 2000, hơn 1,2 tỷ lượt
người sử dụng các dịch vụ INTERNET của Toà Thánh Vatican. Con số còn
phải nhân lên gấp nhiều lần nữa nếu tính chung tất cả các dịch vụ
thông tin Công Giáo của các Giáo Hội địa phương. Số lượng to lớn này
cho thấy các dịch vụ thông tin Công Giáo đã có sức thu hút mạnh mẽ
và đã đạt được những hiệu quả lớn lao. Những người thường dùng các
dịch vụ thông tin Công Giáo, cố nhiên, phần lớn là những người Công
Giáo. Cũng có những người không Công Giáo xem qua chỉ vì tò mò. Tuy
nhiên, theo Catholic Online, không ít những người sử dụng là những
người đang thật sự thành tâm tìm Chúa.
Các dịch vụ thông tin Công Giáo hiện nay nhìn chung có nội dung rất
phong phú và cách trình bày mỹ thuật. Web site của tòa thánh Vatican
( http://www.vatican.va ) cho phép người dùng đọc những bản tin báo
chí của Tòa Thánh, các bài diễn văn của Đức Thánh Cha. Người ta có
thể dễ dàng truy cập những tài liệu trong Thư Viện Vatican. Khó có
Web Site nào trình bày đẹp hơn Web Site của Tòa Thánh Vatican.
Web Site riêng của Giáo Phận Raleigh, thuộc tiểu bang North Carolina
( http://www.raldioc.org ) truyền đi khắp thế giới Thánh Lễ Chúa
Nhật cho những ai không thể nào đến được Nhà Thờ để tham dự Thánh Lễ
Chúa Nhật vì những lý do khách quan. Còn Web Site của Catholic
Connection ( http://www.io-online.com/~catholic ) cho phép người
dùng đặt những câu hỏi liên quan đến Đức Tin Công Giáo. Các địa chỉ
Web Site ( http://www.sni.net/advent và http://www.catholic.com )
thì trình bày có hệ thống những câu hỏi và các câu trả lời liên quan
đến Đức Tin Công Giáo. Rất nhiều những Web Site khác cũng có những
nét rất đặc sắc. Hầu hết các Web Site đều có những tài liệu truyền
bá lòng sùng kính Đức Mẹ và hạnh các Thánh.
VIII. INTERNET VỚI GIÁO HỘI TẠI VIỆT NAM:
Riêng với Công Giáo Việt Nam, các Web sites của Công Giáo Việt Nam
Hải Ngoại đã có mặt trên INTERNET rất sớm và được nhiều người Công
Giáo cũng như không Công Giáo biết đến. Từ tháng 11.1996 đến nay,
VietCatholic, Trung Tâm Thông Tin Công Giáo lớn nhất của Công Giáo
Việt Nam Hải Ngoại đã được gần một triệu lượt người viếng qua. Hiện
nay, tính trung bình có gần 2.000 lượt người sử dụng những dịch vụ
của VietCatholic trong một ngày. Bên cạnh VietCatholic, nhiều Dòng
Tu, báo chí, Giáo Xứ, hội đoàn Công Giáo Việt Nam cũng có mặt trên
INTERNET. Hiện nay, có bao nhiêu Web Site của Công Giáo Việt Nam
trên mạng lưới toàn cầu là một câu hỏi không dễ gì trả lời cho chính
xác...9
Còn với Công Giáo Việt Nam ở ngay tại Việt Nam thì sao ? Vấn đề
INTERNET xem ra còn khiêm tốn lắm. Lý do thì chắc ai cũng hiểu,
không cần phải bàn tới. Các Sư Huynh Dòng La-san và các Tu Sĩ Dòng
Thánh Don Bosco có lẽ do căn tính là những Tu Hội chuyên lo giáo dục
và tiếp cận với Giới Trẻ, nên đã từ lâu tìm hiểu các kỹ năng sử dụng
máy vi tính, âm thầm lặng lẽ làm công việc đi “xóa mù vi tính” cho
các Linh Mục, Tu Sĩ, cho cả các bạn trẻ. Có những Sư Huynh nghiên
cứu viết ra các phần mềm quản trị nội bộ một Giáo Xứ, một Dòng Tu.
Năm 1996, bản thân chúng tôi cầm được một phần mềm vừa gọn trong một
dĩa mềm ( disquette ) dùng để cập nhật và quản lý hồ sơ sổ sách hành
chánh của một Giáo Xứ, hình như do một cha ở Tổng Giáo Phận Sài-gòn
chúng ta soạn thảo. Thật đáng quý khi biết ngài đã lớn tuổi mà vẫn
không ngừng tự học, tự viết, tự hiệu chỉnh rồi không quản khó nhọc
và tốn kém để đi quảng bá và hướng dẫn cho khắp các Giáo Xứ.
Thế nhưng đến vấn đề INTERNET thì chỉ mới đây 4, 5 năm, khi nhà nước
Việt Nam chấp nhận mở cửa, giới Công Giáo Việt Nam mới bắt đầu tập
làm quen với việc gửi E-Mail, rồi truy cập vào các Web Site. Đây đó
cũng đã bắt đầu có các Dòng Tu, các Nhóm sinh viên Công Giáo ( ví dụ:
Dòng Đa-minh Việt Nam ( http://www.daminh.org ), Dòng Chúa Cứu Thế (
http://www.dcctvn.com ), Nhóm Sinh Viên Công Giáo gốc tỉnh Gia Lai:
http://www.svgialai.netfirms.com ), tự lập những Web Site để giới
thiệu về Dòng mình cùng những hoạt động Mục Vụ và Tông Đồ khá đa
dạng và phong phú.
Về E-Magazine ( Báo Điện Tử ) tận dụng con đường E-Mail ( Thư Điện
Tử ), bản thân Dòng Chúa Cứu Thế chúng tôi có lẽ là một trong những
cộng đoàn liều mình đi tiên phong. Xin được giới thiệu khá chi tiết
về 3 tạp chí mang tên Ephata Việt Nam, Gospelnet và Abba, Cha ơi.
Tính đến hôm nay, sau hơn 2 năm hiện diện, 2 tờ báo Ephata Việt Nam
và Gospelnet đều đã ra được 90 số hằng tuần, riêng tờ Abba, Cha ơi,
tuy sinh sau đẻ muộn nhưng đã vượt được con số 100. Tất cả đều dùng
phương tiện INTERNET để phục vụ cho việc Truyền Thông Tin Mừng.
Độc giả trải rộng trên khắp ba miền Việt Nam và tại 20 quốc gia có
cộng đồng người Việt, đa số là Giáo Dân, còn lại là các Giám Mục,
Linh Mục, các Dòng Tu Nam Nữ, đặc biệt Đức cố Hồng Y FX. Nguyễn Văn
Thuận là người tuy ở xa quê hương nhưng vẫn quan tâm và chúc lành
cho công việc Truyền Thông này.
Ngoài một số người viết là Linh Mục và Tu Sĩ trong Dòng Chúa Cứu Thế
thì có rất nhiều giáo sư, bác sĩ, kỹ sư, giáo viên, Giáo Lý Viên,
Linh Hoạt Viên gửi bài về cộng tác, nhưng nhiều phần vẫn là các Linh
Mục, các Nữ Tu và cả các Giám Mục đóng góp đều đặn hàng tuần.
Mỗi tờ báo đều có xấp xỉ 1.000 địa chỉ E-Mail ( accounts ) chính
thức, còn lại không thể tính được việc chúng được download rồi photo
ra thêm bao nhiêu bản nữa. Nội dung mỗi tờ báo đều có nét đặc thù:
* Báo Abba, Cha ơi ( 2 trang A4 ) dành riêng các thông tin,
các suy niệm và chia sẻ chứng tá Lòng Tin, các lời cầu nguyện dành
cho các bạn trẻ, học sinh, sinh viên và thợ thuyền công nhân lao
động trẻ.
* Báo Gospelnet ( 6 – 10 trang A4 ) thì chú trọng đến việc
trình bày Lời Chúa, suy niệm Tin Mừng mỗi Chúa Nhật, các chứng tá,
các câu truyện minh họa Giáo Lý, cùng với các thông tin trợ giúp các
điểm truyền giáo cho lương dân, các sinh viên học sinh nghèo, người
dân tộc, người bệnh, người khuyết tật, người lỡ lầm bỏ ý định phá
thai hoặc muốn cai nghiện ma túy, các nạn nhân thiên tai lũ lụt...
* Báo Ephata ( 20 – 22 trang A4 ) với những bài dài hơi,
nhiều kỳ, thường gắn với một chủ đề, một ý lực hiệp thông trong Giáo
Hội như Bảo Vệ Sự Sống, chống Phá Thai, tin vào Đức Giê-su Phục Sinh
để chiến thắng Ma Túy, kiến tạo Hòa Bình, kêu gọi Bao Dung, vun đắp
Hôn Nhân Gia Đình, phổ biến Giáo Lý, nhận định Luân Lý, cổ võ lòng
sùng kính Đức Mẹ, tường trình các Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới, nhìn
lại Công Đồng Vatican 2...
Một kỷ niệm đáng nhớ:
Dạo tháng 3 năm 2001, cả thế giới xôn xao với vụ án kết tội tử hình
theo bộ luật Shariah của người Hồi Giáo, chị Safya Husseini, người
Nigeria. chỉ vì chị có con ngoài giá thú do bị cưỡng hiệp. Thủ phạm
chính thì đã cao chạy xa bay, nạn nhân thì đã sinh được bé trai
Adama, nay chưa đầy 1 tuổi mà đã có thể bị mồ côi mẹ. Những người
Công Giáo đấu tranh cho nhân quyền, nhất là quyền của phụ nữ đã có
sáng kiến thông tin lên INTERNET, kêu gọi mọi người trên toàn thế
giới cùng ký tên chung trong một E-Mail gửi về sứ quán Nigeria tại
Rô-ma.
Ephata Việt Nam đã thảo ra một lá thư ngắn gọn gửi cho ông đại sứ
Nigeria: “Monsieur l’ambassadeur, nous supplions votre excellence
d’intervenir en notre nom, auprès du Président de la République du
Nigeria, en faveur de SAFYA HUSSEINI, de Tungar – Tudu, pour lui
sauver la vie, et pour que son enfant ne soit pas orphelin. Merci.”
Sau hai tuần lễ, gần 1.000 chữ ký với tên tuổi cụ thể của Giáo Dân,
Linh Mục trong và ngoài Việt Nam, Tu Sĩ Nam Nữ các Dòng, và của cả
những anh chị em ngoài Công Giáo đã gửi về cho Ephata Việt Nam.
Cuối cùng, theo tin các hãng thông tấn AFP và Reuters, ngày
25.3.2002, tòa án Hồi Giáo bang Sokoto, phía bắc Nigeria, Châu Phi,
sau một tuần suy xét, có tham khảo ý kiến của hàng triệu người gửi
E-Mail về Nigeria, đã chính thức tuyên bố chị Safya Husseini không
hề phạm tội. Chánh án Mohammed Tumbari Uthman đã bãi bỏ mọi lời kết
án trước đây đối với Safya vì phiên tòa đầu tiên đã tiến hành không
đúng thủ tục, bên cảnh sát điều tra cũng đã không cung cấp đầy đủ
thông tin cho tòa án. Chị Safya đã đưa hai tay lên trời như một biểu
hiện vui mừng sau phán quyết của tòa án, rồi chị bật khóc trong vòng
tay của bạn bè, gia đình, các luật sư và rất đông người đến dự để
ủng hộ chị...
Chúng tôi cũng được biết thêm một tin vui cho việc Truyền Thông của
Giáo Hội Việt Nam: Nhân Ngày Nhà Giáo Việt Nam năm nay, sau buổi họp
mặt trao đổi với cha Nguyễn Thái Hợp, Dòng Đa-minh, và Thánh Lễ Tạ
Ơn do Đức Cha Phạm Minh Mẫn chủ sự, được cử hành vào Chúa Nhật
17.11.2002 tại Tòa Tổng Giám Mục Sài-gòn của gần 200 giáo chức Công
Giáo, Ngọn Nến, một tờ E-Magazine mới đã được hình thành với địa chỉ
liên hệ: ngonnen@mail.com. Đây sẽ là một “nhịp cầu” cho các giáo
chức, phụ huynh học sinh và các nhà giáo dục Công Giáo có thể gặp gỡ
chia sẻ và nâng đỡ nhau trong thiên chức giáo dục và đào tạo con
người...
Giáo giới đã nhập cuộc. Có lẽ rồi cũng sẽ có những “nhịp cầu” cho
anh chị em Công Giáo hiện đang phục vụ trong các ngành Y Tế, Nghệ
Thuật, Kỹ Thuật và nhất là ngành Xã Hội, Từ Thiện Bác Ái... Chúng ta
có quyền tin tưởng và lạc quan như thế chứ nhỉ ?
Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô 2, trong Sứ Điệp nhân Ngày Quốc Tế
Truyền Thông lần thứ 36, năm 2002, đã nói: “Tôi kêu gọi toàn thể
Giáo Hội hãy dũng cảm bước qua ngưỡng cửa mới mẻ này, để ra khơi
trong biển sâu là mạng máy tính, để hôm nay cũng như trong quá khứ,
sự dấn thân cao cả cho Tin Mừng và văn hoá có thể tỏ cho thế giới "vinh
quang của Thiên Chúa trên khuôn mặt Đức Ki-tô" ( 2 Cr 4, 6 ). Nguyện
xin Chúa chúc lành cho những ai đang hành động cho mục tiêu đó.” 5
Làm rồi mới thấy công việc Truyền Thông qua INTERNET rất vất vả,
căng thẳng, mất thời giờ, tốn tiền cước phí và trang thiết bị, và cả...
hồi hộp nữa chứ ! Khó, nhưng không phải là không thể làm được. Ước
gì Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, các Dòng Tu Nam và Nữ, và ngay cả các
Giáo Phận, các Giáo Xứ, các Đoàn Thể, các ngành, các giới, các Nhóm
sinh viên Công Giáo,... đều sớm bắt tay vào việc “lên Mạng” để
Truyền Thông Tin Mừng. “Hãy ra khơi !” ( Duc in Altum – Lc 5, 4 )
IX. LỜI KẾT TRƯỚC KHI... EXIT !
Đã đến lúc nói lời kết. Biết nói gì và phải nói gì đây ?
“Cả Thế Giới Lên Mạng”. Đó là tựa đề do cha Trịnh Tín Ý, thuộc Ủy
Ban Giám Mục về Văn Hóa của Đức Cha Vũ Duy Thống, đã đề nghị với
chúng tôi cho bài tham luận này.
Ngẫm nghĩ thấy hay hay, nhưng có lẽ chưa hoàn toàn đúng, chưa là một
hiện thực trong tầm tay, bởi vẫn còn đó biết bao bạn trẻ, và khối
lượng rất lớn những người nghèo không bao giờ biết tới, nghĩ tới, mơ
tới chuyện ngồi trước máy vi tính, huống chi là vào Mạng. Họ ở khắp
nơi trên thế giới mà vẫn như ở bên lề của thế giới, mù chữ, đói ăn,
khát nước, bị dịch bệnh, chiến tranh, bạo lực, áp bức và bóc lột đe
dọa từng ngày sống. Họ ở rất xa, rất cao tận trên núi, rất sâu tận
trong rừng, nhưng họ cũng ở rất gần, ngay bên cạnh chúng ta, trên
đường phố, trong ngõ hẻm, ở bên rìa ngoại thành... Có lẽ phải nói
cho công bằng rằng: bên cạnh một thiểu số của thế giới đã lên Mạng,
thì một đa số của thế giới đang có nguy cơ mất... mạng !
Hơn ai hết, những con người đáng thương ấy rất khao khát được lắng
nghe Lời Chân Lý, được gặp gỡ một Đấng đến tìm họ để đồng hành, yêu
thương, an ủi, giải thoát và hồi sinh. Vậy Giáo Hội hôm nay, với
phương tiện INTERNET trong tầm tay, làm thế nào đây để Tin Mừng, để
Niềm Vui và Hy Vọng, để Bình An thật sự có thể được Truyền Thông
trực tiếp, được chạm đến họ ?
Hình như cho tới nay, nếu chúng tôi không lầm, Vatican và cả Đức
Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô 2 chưa đưa ra một vị Thánh Bổn Mạng cho
INTERNET. Chúng tôi đánh bạo đề nghị mời Đức Mẹ đứng ra nhận vai trò
này. Chắc là Mẹ chẳng nỡ nào quay đi từ chối.
Xin Mẹ Ma-ri-a là người đã được Truyền Tin, đã thưa Xin Vâng, đã Cưu
Mang Tin Mừng, đã mau mắn Lên Đường, đã Thăm Viếng, đã Tương Trợ, đã
Hạ Sinh Đức Giê-su, đã Đồng Hành trên lộ trình Loan Báo Tin Mừng với
Con của Mẹ... sẽ luôn là Đấng Bảo Trợ đầy uy tín khả ái của hoạt
động Truyền Thông Tin Mừng qua INTERNET của Giáo Hội chúng ta, cũng
như của tất cả những nỗ lực Truyền Thông chân chính của mọi người
thiện chí trên quê hương Việt Nam, trên toàn thế giới...
Linh Mục Giu-se LÊ QUANG UY,
Dòng Chúa Cứu Thế,
Sài-gòn, ngày cuối năm Phụng Vụ, Chúa Nhật 24.11.2002
|