|
Hãy vững tin, ta luôn mãi bên con!
Qua diễn đàn thân quen, tôi nhận và đọc đi đọc lại câu chuyện kể về ơn gọi của một linh mục để cố tìm ra cho mình một lời giải đáp khi đang phải đối mặt với một tình huống làm tôi áy náy dầy vò suốt cả tuần qua.
Vị linh mục, ngươì Canada gốc Pháp, hiện là cha sở cuả một xứ đạo thuộc vùng New England. Trước kia, cha mẹ ngài ly dị khi ngài vưà xong bậc trung học. Buồn vì cảnh đổ vỡ của các đấng sinh thành, ngài gia nhập hải quân Mỹ để có điều liện tiếp tục theo học. Khi xuất ngũ, ngaì được nhận vaò Đại Học Arizona theo ngành Truyền Thông.Thơì gian naỳ, ngaì làm phát ngôn viên cho chương trình Sport cuả đài Truyền Hình địa phương. Ngoài ra, ngài còn viết báo cho giơí trẻ YMCA. Những năm ở Đaị Học, ngài có một cuộc tình rất đẹp tưởng sẽ đi đến hôn nhân vơí ngươì bạn gái quen nhau từ lúc còn ở Trung học. Nhưng rôì người yêu là con một nên không muốn rơì gia đình để đi xa. Vì thế, trái tim cuả cả hai như rướm maú sau lần gặp gỡ vaò muà hè năm đó. Ngaỳ nhận được thiệp hông baó tin vui của người tình cũng là ngaỳ mẹ ngài vaò bệnh viện. Taị đây bác sĩ đã khám phá ra chứng bệnh hiểm ngheò cuả bà và cho biết bà sẽ không còn sống được bao lâu nưã.
Một hôm, vaò nhà thương thăm mẹ cùng vơí ngươì anh sinh đôi lớn hơn cha 25 phút đồng hồ và ngươì em gái nhỏ hơn ngài 3 tuôỉ. Ngươì anh và ngươì em gái đã lập gia đình vài năm trước đó. Mẹ ngài thì thaò hỏi trong nôĩ lo lắng chung cuả những bà mẹ: - Con sẽ làm gì vơí đơì con?- Nhìn anh, em rôì nhìn mẹ, nưả đuà nưả thật, ngài trả lơì: - Con sẽ đi tu làm Linh Mục, sẽ đi truyền giaó bên Phi Châu... Mẹ ngài ưá nước mắt vui mừng. Để thực sự làm vui lòng mẹ và cũng để tìm hiểu ơn gọi, rời bệnh viện, ngaì ghé thăm một cha già gần đấy. Trong cuộc gặp gỡ ngắn ngủi, ngaì nhờ cha già giơí thiệu nơi naò đó để thực hiện ý định tốt đẹp của mình. Vị cha già không tin chàng thanh niên khôi ngô tuấn tú cho mâý. Nên cha đã hỏi với nỗi ngờ vực: - Không còn gì để anh chọc gheọ tôi nữa sao?- Ngài cươì vui vẽ đáp: - Cha nghĩ ngươì lớn tuôỉ như con đi tu không được sao cha? Nhưng vị cha già cảm nhận ra được phần nào sự chân thành của người đối diện, nên cha vội chống chế: - Không, không, không phải vậy.- Vừa nói tay cha vừa viết địa chỉ cuả Dòng Phanxicô cư ngụ gân đâý. Cầm mảnh giâý trên tay, ngài vui mừng chạy xe thẳng đến nhà Dòng chiêù hôm đó.
Lòng rộn rã ngài ngôì chờ ở phòng khách như người ngồi trên đống lửa bừng cháy. Cha Giám Đốc nhà dòng tiếp chuyện rồi mơì ngài dùng cơm tối và ở lại qua đêm. Trơì đêm cuôí thu, mưa lác đác nhẹ và lạnh. Cha Bề Trên bảo ngài haỹ đi một vòng quanh tu viện và dừng laị ở cột đèn thứ 5 để suy nghĩ và cầu nguyện rôì sau đó trở laị phòng khách báo cho cha giám đốc biết ý định cuả ngài ra sao. Dươí ánh đèn đêm, ngài thong thả bước trong mưa, vưà đi vưà câù nguyện xin Chuá cho ngài được bình an trong Thần Khí của Người, dù mẹ ngài đang đau đớn trên giường bệnh, dù tình yêu của ngài vừa rụng vỡ xót xa, dù cho tương lai của ngài phía trước goi mời sáng sủa . . . để mà chọn lưạ lý tưởng cho đơì mình.
Mưa ướt làm cặp mắt kiếng nhòa theo. Nên lôí đi trở lên mập mờ. Vô tình ngài đụng phải tượng Thánh Tâm Chuá Giêsu thật lớn bên cạnh cột đèn và đó cũng là cột đèn thứ 5. Vì đụng mạnh nên mắt kiếng văng tung xuống đất. Ngài khờ khoạng đi tìm đôi mắt ấy trên lôí đi sỏi đá nhưng vẫn biệt tăm. Và rồi khi đứng lên, tay ngài sờ phải Trái Tim Chuá nơi bức tượng. Bất ngờ thay, khi cúi xuống ngài thâý đôi mắt kia nằm chơ vơ trên mặt đường. Ngước nhìn lên sau khi đã đeo cặp kiếng cận dầy cộm, ngài thâý tay Chuá như đang chỉ cho riêng cá nhân ngài Trái Tim của Người. Gục đâù dươí chân Chuá, trong cơn mưa đêm thấm vaò da thịt, ngài vô cùng xúc động và cảm nhận được niềm vui sướng như được thánh hóa trong ơn gọi. Về phòng, tắm rưả xong, ngài trở laị phòng khách để gặp cha giám đốc như đã hẹn. Ngài vui mừng trinh baỳ ý hướng cao cả cuả mình.
Sau đó ngài xin nhập Đại Chủng Viện Saint John. Trong khi chờ ngaỳ phong chức thì mẹ ngài qua đơì. Lòng tan nát, ngài trở về an táng mẹ tận bên California. Và rồi ngài chọn ngaỳ Chủ Nhật Kính Mình Maú Thánh Chuá để dâng lễ mở tay. Hôm đó, trong Thánh Đường có đâỳ đủ gia đình, bà con, bạn bè tham dự. Trên Bàn Thánh nhìn xuống, ngài thâý thiêú hình dáng người mẹ thân yêu cuả mình. Mắt ngài bỗng mờ đi vì cảm xúc dâng traò khi nghĩ đến tình yêu thương và lòng khát khao vui mừng của người mẹ ngay khi ngài ngỏ ý dấn thân vào ơn gọi. Trên Bàn Thờ một cuốn nhật ký nhỏ của người mẹ thân yêu đã cố gắng viết cho ngài trong những ngaỳ cuôí đơì. Bà căn dặn chỉ được mở ra trong ngaỳ ngài dâng Thánh Lễ đâù tiên. Và khi mở ra, mắt ngài mờ lệ và chỉ còn đọc thâý hàng chữ ngả nghiêng, yêú ớt: "Con ơi, hãy vững tin, ta mãi bên con!". Đã 7 năm trôi qua, cuốn nhật ký nhỏ nhắn và dấu yêu đó luôn được vị linh mục này trịnh trọng đặt trên bàn làm việc của ngài như để nhắc nhở ngài vững tin và hăng say dấn thân vào cuộc đời mục tử mà ngài đã chọn lựa sau khi đã để lại sau lưng những điều tưởng chừng như khó mà cắt đứt bởi nó gắn liền với mình suốt cả một chặng đường dài mà không một ai không thương mến, núi kéo, gắn bó.
Câu chuyện về ơn gọi huyền nhiệm và lời nhắn nhủ: “Hãy vững tin, ta mãi bên con!” của người mẹ nhân hậu trên đã cho tôi liên tưởng về những câu kinh thánh trong thánh lễ chủ nhật XIII thường niên. “Con chồn có hang, chim trời có tổ, Con Người không có chỗ tựa đầu” hay “Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ “ hoặc “Ai đã tra tay cầm cầy mà còn ngoái lại đằng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa”.
Càng suy gẫm Lời Chúa như trên cùng với sự diệu kỳ của ơn gọi đối với vị linh mục nọ, tôi càng cảm thấy tôi yếu đuối, nhỏ mọn và ích kỷ khi không đi thăm được một người bệnh nghèo mà người này đã đến thăm tôi và cùng tôi cầu nguyện xin Chúa Thánh Thần ban ơn chữa lành bệnh tật cho tôi. Sau khi đã tìm lại được sự cân bằng trong nội tâm cũng như cảm nhận “cái tôi” ươn hèn yếu đuối của mình, tôi nhờ một thành viên khác trong nhóm cầu nguyện chở tôi đi thăm người bệnh nghèo bị rắn độc cắn ấy. Khi đến nơi tôi mới thấy hoàn cảnh của anh ta thật sự đáng kính trọng vì nơi anh ta ở như một cái hang chồn tồi tàn, khuất lấp cất nhờ trên một miếng đất nhỏ của một nghĩa trang còn hoang vu râm rạp trong cỏ. Nghĩa địa này thuộc dòng tộc bên vợ anh ta. Nhìn căn nhà hoang tàn với vách lá đã bong tróc đến kinh ngạc mà anh ta trú nhờ, có thể ví như anh ta “không có chỗ tựa đầu”, như “con chồn không có hang” và như “con chim không có tổ” mà tôi cảm thấy mình thật có lỗi với người đã vì lòng “mến Chúa yêu người” mà không quản ngại hòan cảnh nghèo khó của mình để đến thăm tôi cùng dâng lên Thiên Chúa câu kinh chữa lành. Và khi biết cả ba cháu con anh không có điều kiện học hành đàng hoàng mà chỉ được học theo “lớp tình thương” ban đêm trong đó cháu gái lớn của anh sắp sửa chịu phép Thêm Sức, nhưng không có tiền để đóng góp tổ chức mừng lễ, tôi đã lại nghe được Lời Chúa nhắc nhở: “Chính anh em hãy cho họ ăn”. Để chia sẻ hoàn cảnh cùng bệnh tật và nghèo đói với nhau, tôi đã nhường phần thuốc men của tôi cho cháu được tham dự vào ngày mừng lễ lãnh nhận bí tích của Thần Khí Chúa.
Quả vậy, như Thánh Phaolô khuyên dậy: “Nếu anh em sống theo xác thịt thì anh em sẽ chết; nhưng nếu nhờ Thần Khí, anh em sẽ diệt trừ những hành vi của con người ích kỷ nơi anh em, thì anh em sẽ được sống”(Rm 8, 13). Chính vì thế mà tôi hiểu rõ sâu xa lời bà Chiara Lubich, người sáng lập phong trào Focolare, chia sẻ và xác tín: “Tôi chỉ chiêm ngắm và sống Lời Chúa”. Từ đó, mà tôi tha thiết dâng lên Chúa lời nguyện cầu tha thiết:
“Lạy Chúa, con đây là thành viên của nhóm cầu nguyện trong giáo xứ. Xin cho con biết cố gắng vượt qua những khó khăn xác thịt, những ràng buộc vật chất để hiểu được rằng chiêm niệm, cầu nguyện chưa đủ mà phải sống chan hòa chia sẻ với tha nhân như Chúa đã dậy: “Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta” như thế”. Amen.
Giáo xứ Tân Hưng, Saigon, 26/06/2004 Email: peterquivu@hcm.fpt.vn
Phêrô Vũ văn Quí
|