TIẾNG KHÓC CỦA THIẾU PHỤ

 

         

     Buổi sáng, trời mát dịu và nắng nhẹ ươm vàng sau cơn mưa đêm trước. Khi đang mải mê đọc bài báo trong cột “thời sự và suy nghĩ” trên tờ nhật báo nổi tiếng của thành phố, bỗng tôi nghe tiếng khóc của một thiếu phụ. Âm vang của nó nghe nhức nhối, ai oán và tức tưởi. Âm thanh khác lạ! Không phải của người quen trong xóm bởi nơi đây, đôi khi cũng có những trận ẩu đả rồi lôi kéo nhau ra đường chửi rủa của một vài câp vợ chồng thường ghen tuông.

 

Tiếng khóc thúc giục tôi vội bỏ tờ báo xuống, đứng lên liệu xem việc gì xảy ra vào một buổi sáng đẹp trời như thế này. Người thiếu phụ còn rất trẻ vừa khóc vừa phân trần với mấy đứa trẻ nơi căn nhà mà ai ai trong xóm cũng đều ngán ngẩm bởi vì những “thành tích” đã xảy ra nơi căn hộ “nổi đình nổi đám” ấy. Chị ta khẳng định là mấy đứa cháu trong cơ ngơi này đã dàn cảnh rồi lấy đi của chị ta số vốn cỏn con mà chị dùng để mua “ve chai” kiếm cơm hằng ngày.

 

Thế nhưng vì chị ta không bắt “tận tay day tận mặt” nên chẳng ai trong căn nhà ấy cho rằng điều chị nói là đúng. Do đó, tôi cũng cảm thông được sự việc, mời chị lại gần nhà rồi nhỏ nhẹ với mấy cháu nhỏ: ”Các cháu không thấy chị ta khóc lóc thảm thiết khi bị mất một khoản tiền mua “ve chai” rất nhỏ ấy sao! Thôi thì cháu nào lỡ lấy thì cũng nên trả lại cho chị đi, chú sẽ thưởng món khác vậy.” Vừa nói xong, người đàn bà là bà nội của các cháu lên tiếng sang sảng biện minh và còn đả kích không khoan nhượng:       

 

“Tôi đã lục tung quần áo của chúng rồi nhưng chớ thấy đồng bạc nào. Chị ăn nói hồ đồ, vu khống chúng lộ liễu đấy. Thật oan sai cho chúng”. Tôi quá hiểu những uẩn khúc trong gia đình có một không hai trong con hẻm này nên cũng khẳng khái đối chất: “Chúng đâu dễ dàng để cho dì phát hiện ra! Nhưng tôi tin rằng chị này nói thực lòng vì nước mắt của chị ta không phải là diễn kịch, đóng tuồng, khi mà chị ta đã chưa đủ kinh nghiệm đối đầu với những ma mánh của con hẻm này”. Rồi tôi quay sang chị vỗ về:

 

“Thôi chị cũng không nên quá đau khổ để rồi uất ức chỉ vì những đứa bé quá nghịch ngợm, vô giáo dục ấy”. Nhưng chị ta vẫn thổn thức hơn khi sẽ phải nói sao đây với chồng để không bị một trận đòn nhử tử vì sự lóng ngóng ngu muội của chị. Đến lúc này, tôi chợt nhớ lời Chúa vang rền bên tai: “Chính anh em hãy cho họ ăn”. Tôi vội mời chị vào nhà và an ủi chị đôi chút: “Âu cũng là kinh nghiệm sống khi mới bươn chải vào miền đất lạ lẫm này”.

 

        Với tôi, những người hành nghề mua “đồng nát” đa số từ miền Bắc vào và chỉ nghe giọng nói “đặc sệt bắc kỳ rốn” cũng đủ để khẳng định rằng chị ta bị những đứa “nhãi ranh” này đánh một quả lừa thật ngoạn mục. Càng nghĩ càng thấy thương tâm hơn và rồi Lời Chúa:”Chính anh em hãy cho họ ăn” đã khiến tôi móc tiền gửi chị chút đỉnh xoay sở trong những lúc nhỡ nhàng. Liền đó, một vài người trong hẻm dã chứng kiến từ đầu cũng đồng cảm và không ngần ngại chia sẻ với chị chút ít để vực chị dậy. Trước những khoản tiền nho nhỏ bất ngờ nhưng đầy lòng trắc ẩn, chị cũng bớt đi nức nở và còn hứa với tôi sẽ cố gắng hoàn trả lại khi cuộc sống cho phép. Thế rồi chị nín thinh và dẫn chiếc xe đạp cũ mèm ra đi với ánh nhìn cảm ơn và chân thành như chị dâ hứa.

         

Tôi vừa mong chị gặp may vừa chua xót với những suy tư còn đọng lại. Quá khứ và hiện tại cứ xoáy buốt đến nỗi hoàn cảnh trong quá khứ như hiện rõ nơi đây. Tôi đọc lại đoạn kinh thánh theo thánh Luca. “. . . Ngày đã bắt đầu tàn. Nhóm Mười Hai đến bên Đức Giêsu thưa Người rằng: “Xin Thầy cho đám đông về, để họ vào các làng mạc nông trại quanh đây, tìm chỗ trọ và kiếm thức ăn, vì nơi chúng ta đang ở đây là nơi hoang vắng”.

 

Và hiện tại nơi tôi đang sống đây có khác chi đâu. Hoang vắng nền văn minh tình thương. Hoang vắng lương tâm con người đích thực. Đúng như ĐTC Gioan Phalô II dậy dỗ trong chuyến thăm Thụy Sỹ mới đây:”. . . Nguồn mạch đích thực làm cho con người trở nên cao cả là “chính phẩm giá không thể phá bỏ của con người”. Ấy thế mà khi mở lại trang báo mới sáng nay, tôi giật mình với nhửng câu chữ nổi da gà, rợn tóc gáy: “Cho đến nay, nhiều kẻ phạm tội tham nhũng, đục khoét công quĩ, làm giầu bất chính mà vẫn sống nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật, ấm thân phì gia, giũa lúc nước còn nghèo, dân còn khổ thì cái bất công, nghịch lý này càng thêm nguy nan trầm trọng, càng gây bất bình trong nhân dân”(Trần Quốc Khải).

 

Rõ ràng, với nhận định chân thật và nhức nhối như trên thì nơi chúng ta đang ở đây là nơi hoang vắng tình thương yêu, “phẩm giá không thể phá bỏ của con người”. Cũng như trước kia, khi thấy đám dân này đang trong tình trạng đói lả, Chúa Giêsu không thể nào làm ngơ. “Bấy giờ Đức Giêsu cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho môn đệ để các ông dọn ra cho đám đông. Mọi người đều ăn, và ai nấy được no nê. Những miếng vụn còn thừa, người ta thu lại được mười hai thúng”.

         

Quả thật vậy, chính Chúa Giêsu là Đấng làm cho con người được no thỏa, được tràn đầy viên mãn. Người không chỉ giải quyết cái đói về phần tâm linh: ”Người nói với họ về Nước Thiên Chúa” mà còn lo cho họ về mặt thể lý: ”Chữa lành những ai được chữa lành” và “Mọi người đều ăn và ai nấy đều no nê”. Trước tình người, tình yêu thương vô bờ bến của Chúa và trước hoàn cảnh sống hoang vắng hiện tại, tôi tha thiết hơn bao giờ hết mỗi người trong từng cộng đòan nơi mình sinh hoạt biết “lắng nghe” Lời Chúa hối thúc dậy bảo để có thể trở thành “tấm bánh bẻ ra” và được trao ban cho anh chị em mình một khi dám bức ra khỏi cái tôi ích kỷ hẹp hòi, cái tôi tham quyền cố vị, cái tôi vô tâm giữa lúc nước còn nghèo, dân còn khổ, tha nhân còn bị chà đạp và người đau ốm còn bị lãng quên.

         

          Xin mượn lời chia sẻ chân thành và thực tế của ông Mahatma Gandhi với các vị thừa sai khi họ sang Ấn Độ rao giảng Tin Mừng để khát khao nói lên tâm nguyện trong cuộc sống thực tại như sau:

         

         “Hãy để cho đời sống các ngài nói với chúng tôi như đóa hoa hồng không cần ngôn ngữ mà chỉ đơn sơ để cho hương thơm của mình lan tỏa. Cả người mù không nhìn thấy hoa hồng vẫn ngửi được mùi thơm của nó. Hãy để chúng tôi nghĩ tới sự cao cả của nhân dân của các ngài khi họ tỏa hương thơm đời sống. Đối với tôi, đó là tiêu chuẩn duy nhất. Tất cả những gì tôi muốn họ làm là sống đời Kitô hữu chứ không phải chú giải nó”. Hơn thế nữa, tôi xin dâng lên Chúa lời cầu nguyện của cố ĐHY John Henry Newman mà Mẹ Têrêsa thành Calcutta vẫn từng tha thiết cầu khẩn:

         

         “Lạy Chúa, con xin chúc tụng Chúa bằng phương cách mà Chúa ưa thích nhất là làm gương sáng cho những người chung quanh.

         

          Xin Chúa giúp con rao giảng về Chúa không phải bằng lời nói nhưng bằng việc làm, bằng sức mạnh thu hút bởi ảnh hưởng dễ thương của những gì con làm, bởi chứng cớ trọn vẹn nhất của tình yêu mà tâm hồn con luôn hướng đến Ngài. Amen.”

 

Vũ văn Quí, email: peterquivu@hcm.fpt.vn