16 Giáo Hoàng Lấy Danh Hiệu Bênêđictô

 

Bênêđictô theo tiếng Latinh có nghĩa là "người được chúc phúc" cùng với tên đặt Pius, Gioan, Lêo, Phaolô và Innôcentô là những danh hiệu được nhiều Tân Giáo Hoàng ưa thích chọn lựa khi đăng quang Giáo Hoàng.

Bênêđictô là tên của Vị Thánh lớn trong Giáo Hội của thế kỷ thứ V. Đấng sáng lập dòng Biển Đức (Bênêđictô): đó là Thánh Bênêđictô thành Nursia (Ý). Ngài sinh vào năm 480 tại Nursia và có ơn gọi ẩn tu. Ngài là đấng sáng lập dòng ẩn tu tiên khởi với quy luật „Ora et Labora“ (Cầu nguyện và làm việc). Dòng ẩn tu Biển Đức đã được lan rộng mạnh lớn trong khắp Âu Châu qua nhiều thế kỷ cho dòng nam và dòng nữ. Vòng quanh Âu Châu đếm được hàng ngàn dòng tu Biển Đức lớn nhỏ, đã cho thấy thời cực thịnh của ơn gọi ẩn tu lúc bấy giờ.

Thánh Bênêđictô qua đời ngày 21.03.547. Ngày kính của Ngài là 11.7. hằng năm.

Thánh Bênêđictô được tuyên dương là Cha Cả của các dòng tu Âu Châu, đồng thời cũng là Đấng Bổn Mạng của toàn cõi Châu Âu.

Sau đây là danh sách 15 vị tiền nhiệm của Tân Giáo Hoàng Bênêđictô XVI mang cùng danh hiệu.

1. ĐGH Bênêđictô I (575 - 579): Người Ý. Ngài qua đời khi thành Roma bị vây hãm trong cuộc xâm lăng của người Lombarđô. Lúc đó xảy ra nghèo đói và bệnh tật cho toàn Âu Châu. Ngài lên ngôi Giáo Hoàng khi Tòa Thánh đã trống ngôi Giáo Hoàng trong 10 tháng. Bắt đầu triều đại ngày 02.6.575 cho đến 30.7.579.

2. Thánh Giáo Hoàng Bênêđictô II (684 - 685): Người Ý. Ngài được bầu làm Giáo Hoàng vào năm 683, nhưng cho mãi tới ngày 26.6.684 mới đăng quang vì còn phải được sự chấp thuận của hoàng đế Konstantin IV ở Konstantinopel (Đông Phương). Ngài là một học giả uyên bác và có công hàn gắn những chia rẽ của Giáo Hội La-mã và Đông Phương. Ngài qua đời ngày 08.5.685, là vị Giáo Hoàng duy nhất mang tên Bênêđictô được phóng thánh. Ngày kính là mồng 08 tháng 5.

3. ĐGH Bênêđictô III (855 - 858): Người Ý, đăng quang Giáo Hoàng ngày 29.9.855. Ngài nhấn mạnh đến vai trò gia đình và nêu cao bí tích hôn phối. Trong thời này nền luân lý nơi tầng lớp vua chúa, vương tước, quan hầu xuống dốc và ngay cả trong hàng ngũ tu sĩ nam nữ. Ngài đã mạnh tay chỉnh đốn lại và qua đời ngày 07.4.858.

4. ĐGH Bênêđictô IV (900 - 903): Người Ý. Ngài tiếp tục đường hướng của Cố Giáo Hoàng Formosus là chống lại quyền lực của vương hầu La-mã lúc bấy giờ. Ngài qua đời vào mùa hè 903.

5. ĐGH Bênêđictô V (964 - 965): Người Ý. Khi Đức Giáo Hoàng Gioan XII qua đời, Ngài được hàng vua chúa tại La-mã đề cử lên ngôi Giáo Hoàng nhưng đại đế Otto I không đồng ý. Bởi thế khi Vua Otto I xâm chiếm được La-mã bèn cách chức Ngài xuống hàng phó tế và mang Ngài về Đức (Hamburg?), nơi đây Ngài đã qua đời vào ngày 04.7.965. Xương cốt của Ngài đã được vua Otto III mang lại về La-mã vào năm 988.

6. ĐGH Bênêđictô VI (973 - 974): Người Ý. Ngài là người có quan hệ tốt với đại đế Otto I. Khi vua này qua đời thì một nhóm vua chúa tại La-mã đã tạo dựng lên một Ngụy Giáo Hoàng xưng tên Bonifatius VII và bắt ĐGH Bênêđictô VI tống ngục. Ngài đã bị giết chết trong ngục thất vào tháng 7.974.

7. ĐGH Bênêđictô VII (974 - 983): Người Ý. Khi đại đế Otto II lên ngôi thì giải thể ngay Ngụy Giáo Hoàng Bonifatius VII và vị này phải chạy trốn qua Đông Phương ẩn náu. Giám Mục của giáo phận Sutri được chọn làm Giáo Hoàng và lấy danh hiệu Bênêđictô VII cùng năm 974. Ngài chủ trương canh tân Giáo Hội và thúc đẩy công việc truyền giáo. Ngài qua đời ngày 10.7.983.

8. ĐGH Bênêđictô VIII (1012 - 1024): Người Ý, tên gọi là Theophylakt II vì Ngài là người của hoàng tộc Tusculum có nhiều thế lực. Vào năm 1020 kết hiệp với hoàng đế của Bamberg để đánh đuổi người hồi giáo đang chiếm lấy miền Nam Ý. Ngài quan tâm đến việc canh tân Giáo Hội và củng cố luật sống độc thân cho hàng tu sĩ nam nữ. Ngài qua đời vào ngày 09.4.1024. Người kế vị Giáo Hoàng chính là em ruột của Ngài và lấy danh hiệu Gioan XIX.

9. ĐGH Bênêđictô IX (1032 - 1047): Người Ý, tên gọi là Theophylakt III thuộc hoàng tộc Tusculum. Ngài là cháu ruột của của Giáo Hoàng Bênêđictô VIII và Giáo Hoàng Gioan XIX. Ngài lên ngôi Giáo Hoàng lúc 18 tuổi. Trong triều đại Giáo Hoàng này xảy ra nhiều cuộc ám sát muốn giết Giáo hoàng. Ngài được bổ nhiệm làm Giáo Hoàng 3 lần nhưng có hai lần bị ép rời ngôi Giáo Hoàng và một lần thoái vị. Trong triều đại khủng hoảng này có tới 3 Giáo Hoàng là Bênêđictô IX, Silvester III và Gregor VI cùng cầm quyền. Vào năm 1046 theo yêu cầu của Hoàng Đế Heinrich III triệu tập Công Đồng tại Sutri truất phế 3 vị Giáo Hoàng này và để cử Giáo Hoàng Clemens II cai quản Giáo Hội.

10. ĐGH Bênêđictô X (1058 - 1059): Người Ý, tên gọi là Johannes Mincius và là giám mục của Velletri. Ngài được nhóm vua chúa chống đối đường hướng canh tân Giáo Hội bầu lên Giáo Hoàng. Cuộc bầu cử bị xem là bất hợp pháp và Ngài bị truất phế vào năm 1059. Ngài qua đời vào năm 1073 tại một tu viện ở Rôma.

11. ĐGH Bênêđictô XI (1303 - 1304): Người Ý, tên gọi là Nikolaus Boccasini. Ngài sinh năm 1240 ở Treviso, Bắc Ý. Ngài nhập dòng Đa Minh và trở thành Hồng Y năm 1298. Khi lên ngôi Giáo Hoàng Ngài thực hiện chương trình hòa giải với nước Pháp mà trước đây do vị tiền nhiệm là Giáo Hoàng Bonifatius VIII đã gây ra. Ngài qua đời ngày 07.7.1034 tại Perugia.

12. ĐGH Bênêđictô XII (1334 - 1342): Người Pháp, tên gọi là Jacques Fournier. Trong triều đại này Tòa Thánh từ Roma đã được chuyển sang vùng Avignon của Pháp và Tòa Thánh tồn tại ở đây trong suốt 72 năm trời. Ngài canh tân các luật dòng nhất là luật dòng Thánh Biển Đức và cũng là người khởi công xây dựng Tòa Giáo Hoàng tại Avigon. Muốn cho nước Pháp được độc lập Ngài kêu gọi chống lại vua Ludwig của Bayern.

13. ĐGH Bênêđictô XIII (1724 - 1730): Người Ý, sinh ngày 02.2.1649 tại Gravina,  tên gọi là Pedro de Luna. Ngài theo dòng Đa Minh, làm giám mục thành Benevent. Sau 70 ngày dài bầu Giáo Hoàng, Ngài được chọn vào ngày 29.5.1724. Sau đó Ngài đăng quang Giáo Hoàng vào ngày 04.6.1724. Ngài chủ trương cải cách chống lại thói quan liêu của hàng giáo sĩ. Ngài qua đời ngày 21.2.1730.

14. ĐGH Bênêđictô XIV (1740-1758): Người Ý, sinh ngày 21.3.1675 tại Bologna, tên gọi là Prosper Lambertini. Từ 1701 làm việc trong giáo triều La-mã. 1726 được phong chức Hồng Y. Vào ngày 17.8.1740 được bầu lên Giáo Hoàng. Ngài canh tân giáo triều, soạn lại luật bí tích và các luật dòng tu. Ngài qua đời ngày 03.5.1758.

15. ĐGH Bênêđictô XV (1914 - 1922): Người Ý, sinh ngày 21.11.1854 tại Genua, tên gọi là Marquese Giacomo della Chiesa, thuộc giòng dõi quý tộc. Vào năm 1875 đậu bằng tiến sĩ về luật học và lúc đó mới theo ơn gọi học thần học và học trường ngoại giao Tòa Thánh. Ngài được thăng chức giám mục cho giáo phận Bologna vào ngày 16.12.1907 và được tấn phong Hồng Y vào ngày 25.5.1914. Trong thời gian này xảy ra thế chiến thứ nhất, Ngài được bầu lên Giáo Hoàng vào ngày 03.9.1914. Trong cuộc chiến Ngài dấn thân kêu gọi 2 bên địch thù thương thuyết để tạo dựng hoà bình, trong khi đó nhiều vị nguyên thủ khác khoanh tay làm ngơ. Bởi thế Ngài được trao tặng danh hiệu „Giáo Hoàng hòa bình“. Thế chiến chấm dứt vào năm 1917. Ngài qua đời vào năm 1922 sau cơn bệnh xưng phổi.

16. ĐGH Bênêđictô XVI (19.4.2005 - ): Người Đức, XVI sinh ngày 16.4.1927 tại Marktl am Inn vùng Altötting, Đức quốc với tên gọi là Joseph Alois Ratzinger.  Ngài là một thần học gia uyên bác của thế kỷ. Lúc 24 tuổi cha Joseph Ratzinger chịu chức linh mục. Năm 30 tuổi trở thành giáo sư thần học thực thụ, cho đến nay Ngài vẫn là vị giáo sư trẻ nhất của nước Đức. Ngài đam mê nghiên cứu thần học và về nhiều lãnh vực khoa học nghệ thuật. Tư tưởng của Ngài đã để lại nhiều dấu vết tại các đại học Đức ở Freising, Bonn, Münster, Tübingen, Regensburg… Sự uyên bác của ngài đã vượt khỏi không gian đến tận Công Đồng Vaticanô II, để trở thành chuyên gia thần học cho Công Đồng. Đọc lại tiểu sử của Ngài cho thấy nhiều đại học đánh giá cao và trao cho Ngài bằng tiễn sĩ danh dự (7 bằng tiến sĩ). Các tác phẩm lớn với hơn 40 cuốn sách, mặc dù có sách đã viết từ 1968 vẫn trở thành sách gối đầu giường cho sinh viên thần học ngày nay. Có sách đã được dịch thuật qua 17 thứ tiếng khác nhau. Ngài còn là thành viên của nhiều viện khoa học lớn trên thế giới. Ngoài đời cũng trao tặng cho Ngài nhiều giải thưởng và huy chương danh dự quốc gia. Bộ óc thông minh của ngài đã dồn được 10 ngôn ngữ khác nhau vào trong đó và sử dụng được thuần thục. Vào ngày 24.03.1977 Đức Giáo Hoàng Phaolô VI bổ nhiệm Ngài làm Tổng Giám Mục München và Freising. Ba tháng sau đó, 27.06.1977 Ngài được Đức Giáo Hoàng Phaolô VI tấn phong Hồng Y. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cử ngài giữ chức tổng trưởng Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin vào ngày 25.11.1981, ngoài ra Ngài còn là chủ tịch Ủy Ban Tòa Thánh về Thánh Kinh, và chủ tịch Ủy Ban Thần Học Quốc Tế. Vào ngày 19.4.2005, lúc 18g41 Đức Hồng Y Estevez xuất hiện trước ban công của đền thờ Thánh Phêrô bên micrôphôn và công bố: “Anh Chị Em thân mến, tôi là Hồng Y Estevez, tôi rất vui mừng được loan báo,” Ngài xúc động ngừng lại thật lâu và nói tiếp bằng câu Latinh nổi tiếng: “Habemus Papam” và người được tín nhiệm là Đức Hồng Y Joseph Ratzinger đã chọn tên Giáo Hoàng là Bênêđictô XVI. Đây là cuộc bầu cử rất ngắn của 115 Hồng Y hiện diện và cũng nói lên sự „đồng tâm nhất trí“ của các Hồng Y dành cho Hồng Y Joseph Ratzinger, cuộc bầu cử chỉ kéo dài trong 26 tiếng đồng hồ và trong vòng bầu thứ tư của ngày bầu thứ hai. Ngày đăng quang Giáo Hoàng là Chúa nhật 24.4.2005.

Tổng hợp: Lm. Phaolô Phạm Văn Tuấn

Mục Vụ Giới Trẻ VN tại ĐHGT-2005 www.DHGT-2005.net

Tham khảo:

-         Tự điển Wikipedia, der freien Enzyklopädie

-          Das grosse Buch der Heiligen (Melchers)

-          Die Heiligen im Jahreslauf (Weltbild)


 

Tân giáo hoàng trước các trào lưu văn hóa ngày nay

Trích dẫn một vài đoạn văn trong bài giảng của Hồng Y Joseph Ratzinger trong thánh lễ «pro eligendo Romano Pontifice», cầu nguyện cho việc bầu giáo hoàng ngày 18 tha&ng 04 năm 2005 tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô , Vatican

Bản dịch Pháp ngữ của Định Hướng
 

Lòng nhân hậu của Chúa không phải là một ơn huệ vô nghĩa, không phải là sự đánh mất ý thức về sự ác. Đức Kitô mang toàn gánh nặng của sự ác, toàn sức hủy hoại của nó trong thân xác và linh hồn Ngài. Ngài đốt cháy và biến sự ác nơi đau khở, nơi lửa của tình yêu khốn khổ của Ngài...

Chúng ta chỉ dừng lại nơi hai điểm nầy. Điểm thứ nhất là con đường đi đến "sự trưởng thành của Chúa Kitô" theo lối nói hơi quá tóm lược của bản văn tiếng Ý. Chúng ta nên nói một cách chính xác hơn theo bản văn Hy Lạp là hướng đến "mức toàn thành của Chúa Kitô", mà chúng ta được mời gọi để thực sự là kẻ trưởng thành trong đức tin. Chúng ta đừng nên dừng lại cấp con nít trong đức tin như những vị thành niên.  Con nít trong đức tin nghĩa là gì? Thánh Phaolô trả lời rằng tình trạng đó là "đổi đổi thay thay cuốn theo mọi trào lưu học thuyết" (Ep. 4,14). Lối diễn tả đó thật đúng cho ngày hôm nay!

Chúng ta đã chứng kiến biết bao học thuyết suốt nhũng thập niên vừa qua, biết bao nhiêu trào lưu ý hệ, bao nhiêu mốt suy tư...Con thuyền nhỏ bé tư tưởng của nhiều kitô hữu cũng đã thường bị chao đảo bởi sóng gió của các trào lưu ấy, trôi giạt từ cục nầy đến cực khác: từ thuyết Mác-Xít đến thuyết tự do, rồi đi đến chủ trương buông thả mọi sự đều được phép làm; từ học thuyết tập thể đến cá nhân chủ nghĩa triệt để; từ vô thần thuyết đến một lối tôn giáo huyền hoặc mơ hồ; từ thuyết bất khả tri đến chủ trương tuyển chọn hỗn hợp, và vô số học thuyết khác nữa. Các giáo phái mọc lên mỗi ngày, y như lời thánh Phaolô nói về sự phỉnh phờ của thế gian, về mưu chước tạo ra lầm lạc (Xem Ep. 4,14). Có được một đức tin rõ ràng theo đúng lời tuyên xưng Đức Tin của Giáo Hội thì thường bị gán cho nhãn hiệu là bảo căn. Còn như phất phơ trước gió, chủ trương mọi sư là tương đối thì lại được xem là thái độ duy nhất hợp với thời thế. Một lối độc tài của chủ nghĩa tương đối nầyđang thành hình, không nhìn nhận có cái gì nhất định cả, và chỉ còn giữ lại cái tôi của mình và ý muốn của mình làm tiêu chuẩn tối hậu.

Trái lại, chúng ta có một chuẩn mực khác: đó là Con Thiên Chúa, người chân thật. Chính Ngài là thước đo một nền nhân bản chân thật. Một đức tin chạy theo mốt, theo thủa theo thời, không phải là đức tin của người "trưởng thành". Một đức tin trưởng thành và chín chắn phải đâm rễ sâu trong tình bạn hữu với Chúa Kitô. Mối tương giao bạn bè ấy mở ra cho chúng ta thấy những gì là thiện hảo, và cống hiến cho chúng ta tiêu chuẩn để phân định  thật giả, phải trái. Chúng ta cần lớn lên trong đức tin trưởng thành ấy, chúng ta cần dẫn lối đàn chiên Chúa Kitô hướng đến đức tin ấy. Và chỉ có đức tin ấy tạo được sự hợp nhất và được thực hiện ra trong đức ái. Ngược lại với đổi thay liên tục và bất chừng của những người phất phơ trước các trào lưu, thánh Phaolô cống hiến cho chúng ta một lời nói bất hủ: làm sự thật trong đức ái đó là châm ngôn nền tảng của cuộc sống kitô giáo. Trong Chúa Kitô, sự thật và đức ái trùng hợp. Trong con đường đến gần Chúa Kitô, kể cả trong cuộc đời chúng ta, chân lý và đức ái chan hòa vào nhau. Đức ái không chân lý sẽ mù tối; chân lý không đức ái sẽ như "chiếc phèng la kêu inh ỏi" (1 Cr, 13,1)......