CHÚC THƯ của ĐGH Gioan Phaolo 2 

 

„Tôi tạ ơn tất cả mọi người.

Xin mọi người tha thứ cho tôi.“



 

5 ngày sau khi ĐGH Gioan Phaolô II qua đời Tòa Thánh đã phổ biến công khai di chúc của Ngài. Di chúc dài 15 trang và được viết bằng tiếng Ba Lan. Nhiều đoạn đã được viết vào năm 1979 sau khi đắc cử Giáo Hoàng chỉ vài tháng. Những đoạn trong di chúc được dịch qua tiếng Đức bởi đài phát thanh Radio Vatican.

 

Mồng 5 tháng 3 năm 1979:

Tôi tạ ơn tất cả mọi người. Xin mọi người tha thứ cho tôi. Và tôi xin mọi người cầu nguyện để xin lòng thương xót của Thiên Chúa rộng lớn bao la hơn là các yếu đuối và bất xứng của tôi.

 

Tôi chẳng để lại tài sản đáng giá nào để chia cả. Những đồ vật sử dụng hằng ngày tôi để lại và chia cho nhau đúng nghĩa. Những bản văn viết tay xin đốt hết. Tôi muốn điều này do cha Stanislao (Dziwisz) điều hành, người đã làm việc chung lâu dài và hiểu ý tôi, tôi cám ơn ngài. Về nghi lễ an táng, tôi muốn được thực hiện như ĐGH Phaolô VI (chỗ này được bổ túc vào ngày 13.3.1992: được chôn dưới đất, không chôn trong hòm đá).

 

Ngày 24. 2... đến mồng 01.3.1980:

Ai cũng phải nhìn xa đến cái chết và đ nó trước mắt. Và tôi sẵn sàng đứng trước mặt Thiên Chúa và là đấng quan tòa, nhưng cũng là Đấng Cứu Độ và là người Cha. (...) Một lần nữa tôi hoàn toàn tin tưởng vào ân đức của Thiên Chúa. Chính Ngài quyết định ngày giờ và cách thế cuộc đời dương thế của tôi và nhiệm vụ Giáo Hoàng của tôi.

 

Ngày 05 tháng 3 năm 1982:

Cuộc ám sát vào ngày 13.5.1981 đã chứng minh rất rõ ràng cho những lời tôi đã viết trong dịp cấm phòng của năm 1980 (từ 24.2. đến mồng 01.3.1980).

      Ngày 05 tháng 3 năm 1982:

Cho đoạn: „Nơi chôn cất do Hồng Y Đoàn và những người đồng hương của tôi quyết định“ tôi muốn bổ xung cho rõ ràng: „Xin Hồng Y Đoàn để ý đến nguyện vọng của Đức TGM Krakau hoặc của Hội Đồng Giám Mục của Balan.“

 

Càng đến gần Năm Thánh 2000 thì thế kỷ thứ 20 càng lùi lại phía sau chúng ta và thế kỷ 21 lại mở rộng. Trải qua những dự đoán quan phòng đã cho biết tôi sống trong một thế kỷ khó khăn, thì nay nó sắp đi vào quá khứ. Và bây giờ trong năm mà tôi sẽ mừng tuổi thứ 80, người ta sẽ phải tự hỏi đó không phải là thời gian trong Thánh Kinh cụ già Simeon đã nói: „Nunc dimittis“ (Giờ đây, lạy Chúa, xin để tôi tớ Chúa được an bình ra đi).

 

Từ ngày 12 đến 18 tháng 3 năm 2000:

Vào ngày 13.5.1981 trong dịp triều yết tại quảng trường Thánh Phêrô, ĐGH đã bị ám sát thì chính sự quan phòng của Thiên Chúa gìn giữ tôi khỏi cái chết. Chính Người, chỉ Người duy nhất quyết định về sự sống và sự chết đã cứu mạng tôi, chắc chắn Người lại trao tặng cho tôi cuộc sống. Lúc đó tôi hoàn toàn thuộc về Người. Tôi hy vọng Người giúp tôi nhận ra được, khi nào tôi lại tiếp tục nhiệm vụ của tôi mà Người đã giao phó vào ngày 16.10.1978. Tôi cầu xin Người gọi tôi về với Người khi nào Người muốn. Tôi cũng hy vọng rằng Người còn cho sống lâu để thi hành nhiệm vụ cai quản Giáo Hội. Sự quan phòng của Thiên Chúa sẽ ban sức mạnh cho tôi hoàn thành nhiệm vụ này.

 

Hằng năm vào mỗi dịp cấm phòng tôi đọc lại di chúc đã viết vào ngày 06.3.1979. Tôi vẫn muốn giữ những điều đã được bổ xung trong bản văn.

Trong thời gian hơn 20 năm cai quản Giáo Hội tôi đã cảm nhận được nhiều điều tốt lành và hoa trái của sự làm việc chung với các Hồng Y, với các Tổng Giám Mục và Giám Mục, với các Linh Mục, Tu Sĩ Nam Nữ và với nhiều Giáo Dân. Tôi không thể ôm vào lòng hết được các Hội Đồng Giám Mục trên thế giới, tôi không thể nhớ hết được các anh em tận hiến cùng niềm tin Kitô, thầy Rabbi của Rôma và rất nhiều đại diện của các tôn giáo khác.

 

Càng đến cuối đời những ý tưởng của tôi lại trở về thuở thơ ấu là nhớ đến cha mẹ, anh tôi và chị tôi (người đã qua đi trước khi tôi được sinh ra), tôi nhớ đến giáo xứ Wadowice - nơi tôi đã được rửa tội, tôi nhớ đến thành phố yêu thương của tôi, tôi nhớ đến các người bạn cùng tuổi và cùng lớp học, trường trung học, đại học, tôi nhớ đến thời gian bị (Hitler) chiếm đóng khi tôi là người thợ làm việc, tôi nhớ đến việc mục vụ cho sinh viên, tôi nhớ đến môi trường này..., nhất là môi trường ở Krakau và ở Rôma và tôi nhớ đến mọi người đã tin tưởng vào tôi.

Cho tất cả mọi điều ấy tôi chỉ nói lên được: „Xin Thiên Chúa thưởng công bội hậu cho tất cả mọi người.“

 

„Trong tay Ngài, lạy Chúa! con phó dâng linh hồn con.“

 

Chuyển ngữ: Lm. Phạm Văn Tuấn 

Mục Vụ Giới Trẻ VN tại ĐHGT-2005  www.DHGT-2005.net

 

Tâm Tư Nhớ Về Cha Chung Gioan Phaolô II

(Trong ngày an táng ĐGH Gioan Phaolô II, thứ sáu, 08.4.2005)

 

 Đức quốc - 08.4.2005 - Tất cả báo chí và truyền thanh truyền hình cũng như qua phương tiện Internet hiện đại đã đưa tin tức hằng phút hằng giờ không ngừng từ giáo đô Rôma trong những ngày vừa qua. Không những thế mọi nơi khắp năm châu bốn bể đều tưởng nhớ đến người quá cố: Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Các nhà chính trị đều kính cẩn vinh danh Ngài từ nước giàu có văn minh cho đến các nước nghèo khổ. Các nhà tôn giáo khác cũng dùng những danh từ đẹp nhất để ca tụng Ngài. Các nhà chính trị đủ mọi khuynh hướng đều kính trọng Ngài. Nhiều người đã nhỏ lệ thương tiếc, hằng triệu người đứng xếp hàng cả ngày đêm để được vào viếng thi hài ĐGH chỉ trong khoẳng khắc vài giây để nhìn mặt từ giã Ngài. Thành phố Rôma đã quá tải không còn sức và phương tiện đón nhận khách hành hương khoảng 4 triệu người đến viếng ĐGH Gioan Phaolô II.

Một điều chưa có xảy ra trong lịch sử nhân loại, trong lịch sử Giáo hội, nhất là đối với một cụ già đã 84 tuổi qua đời: khoảng 200 vị nguyên thủ quốc gia, vua chúa, nữ hoàng, những vị đại diện các tôn giáo lớn tới tham dự tiễn đưa ĐGH Gioan Phaolô II đến phần mộ cuối cùng, một kỷ lục chưa từng có trong một đám tang với 4 triệu người trực tiếp tham dự và hơn 2 tỷ người theo dõi bằng truyền hình. Lần đầu tiên 3 vị tổng thống Hoa Kỳ cùng có mặt kính cẩn và quỳ trước thi hài của một người quá cố.

Tất cả những điều kể trên chính là những hoa trái mà Đức Giáo Hoàng đã sống và đã làm cho nhân loại, cho Giáo Hội. Ngài đã trao tặng cho chúng ta cả con người của ĐGH Gioan Phaolô II, cả sức lực, cả trí khôn và cả con tim của Ngài nữa. Cố gắng với tất cả sức lực Ngài đã dùng - trước 3 ngày qua đời - bằng cách hiện diện tại cánh cửa sổ thư phòng trong giây phút ngắn ngủi đưa cánh tay phải yếu ớt lên cao giã từ nhân loại. Đến khi nhẳm mắt xuôi tay trong di chúc không hề có một chút của cải riêng tư, trái lại trao cả một kho tàng tinh thần vô giá cho nhân loại: „hãy thiết lập sự hòa giải và kiến tạo hòa bình.“

Trong những ngày qua thế giới đã đón nhận một làn sóng mạnh, một dòng điện đến tận từng người, từng gia đình, từng quốc gia. Một làn sóng biết ơn, an bình, bất bạo động... chỉ vì một cụ già đã qua đời. Có nhiều quốc gia treo cờ rũ trong 3 ngày để tưởng nhớ ĐGH. Hai triệu người „diễn hành tạ ơn“ thầm lặng ban đêm tại thành phố Krakau - nơi ĐGH làm giám mục - để hồi tưởng về Ngài và dâng thánh lễ ngoài cánh đồng lớn đúng vào lúc 21g37, là giờ Ngài qua đời tại Rôma. Sau đó họ ở lại canh thức cầu nguyện suốt đêm bên ngọn nến. Hằng chục ngàn bạn trẻ ngủ ngay bên viả hè Rôma trong đêm lạnh lẽo với niềm hy vọng sáng mai có chỗ vào tham dự thánh lễ. Chắc chắn phải có nguyên nhân cho những việc được xảy ra tường tận truớc mắt chúng ta như thế. Đó chính là đấng kế vị Thánh Phêrô đã cai quản Giáo Hội trong 26 năm nay với phương châm: „Các con đừng sợ! Hãy mở cánh cửa cho Chúa Kitô!“

ĐGH Gioan Phaolô II đã mở rộng cánh cửa để đến với nhân loại, với 104 quốc gia, với những người nghèo khổ tại Kalkutta, đến trại tù để tha thứ cho chính người muốn giết mình, nhất là mở cánh cửa hòa giải giữa các tôn giáo, giữa các quốc gia và quan trọng hơn hết là mở ngay cánh cửa Hội Thánh để xin lỗi cho những lỗi lầm quá khứ - vì vô tình hay cố ý - do Giáo Hội, do hàng giáo sĩ, do người giáo dân nhân danh Chúa Kitô đã bất công gây ra.

Đối với tôi Ngài quá vĩ đại, Ngài là kim chỉ nam, Ngài là cục nam châm, Ngài sẽ là điểm tựa cho cuộc đời của tôi. Tôi không còn buồn vì mất Ngài, nhưng trái lại tạ ơn Thiên Chúa đã cho tôi được sống trong thời đại này, được chứng kiến „hiện tượng Gioan Phaolô II“, được nghe trực tiếp những lời giảng dạy, được hội kiến bắt tay Ngài, được vui mừng gào thét tên „Giovanni Paolo“ tại mỗi Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới. Tạ ơn Thiên Chúa đã trao tặng Karol Josef Wojtyla cho chúng con, đó là một hồng ân cho nhân loại và cho riêng chính con nữa.

„Xin Thiên Chúa thưởng công bội hậu cho Cha Chung Gioan Phaolô II trên thiên quốc.“

 

Lm. Phaolô Phạm Văn Tuấn

Mục Vụ Giới Trẻ VN tại ĐHGT-2005 www.DHGT-2005.net