NỢ NẦN
Thầy tôi không có đông anh chị em. (Người con lúc đó ở Bắc Việt
thường gọi bố là thầy vì thầy vừa sinh ra thân xác mình, vừa đào
luyện tinh thần mình từ thuở ấu thơ như một thầy giáo). Bên trên
thầy tôi là cô Tân - tên ông chồng của cô tôi - và lúc đó, ở vùng
tôi, tỉnh Nam Định, Bắc Việt, chị hay em của bố cũng đều được gọi là
cô. Người em gái út của thầy tôi cách thầy tôi một khoảng xa là cô
Thư. Thầy tôi nói mấy người ở khoảng giữa đã chết từ khi còn nhỏ xíu
bởi thuốc tây chưa tràn vào Việt Nam.
Cuộc đời cô Tân và gia đình bình thường như nhiều gia đình khác lúc
đó ở thôn quê. Cấy một vài mẫu ruộng, trồng dâu nuôi tằm hoặc dệt
vải, dệt chiếu, làm nón, làm đậu phụ nếu có nghề v.v… để sinh sống .
Cũng có những người bạo gan hơn thì nấu rượu lậu bán lén bán lút
kiếm tiền nhưng phải thật khéo kẻo Tây đoan về bắt bỏ tù. Rượu do
Tây độc quyền sản xuất gọi là rượu Văn Ðiển hay rượu Ty do một nhà
máy ở gần ga Văn Ðiển (gần Hànội) sản xuất độc quyền. Rượu Văn Ðiển
có pha nhiều cồn nên uống sóc và uống nhiều có hại chứ không êm,
tốt và bổ như rượu do dân ta cất lấy.
Bà nội tôi , tôi chỉ biết rất ít khi còn quá nhỏ. Còn ông
nội, tôi hoàn toàn không biết . Ông mất trước khi tôi sinh. Thầy
tôi kể lại ông bà làm nghề buôn bè từ Tuyên Quang, Thái Nguyên, Phú
Thọ, Việt Trì về, làm ăn khá giả nhất nhì trong làng, trong tổng. .
“Muốn giầu đi buôn bè, muốn què đi đánh vật”, câu thành ngữ ở cửa
miệng mọi người hồi đó. Chính vì vậy mà thầy tôi mới được đi học.
Làng tôi không có đất văn học nên người đỗ đạt ít lắm. Người được
đi học (như thầy tôi) cũng không có bao nhiêu vì hoàn cảnh kinh tế.
Có một miệng ăn trong gia đình là phải tính một đầu người sản xuất,
kể cả những đứa trẻ bảy, tám tuổi trở lên. Chăn trâu, chăn bò hoặc
cắt cỏ cho trâu bò ăn là những việc trẻ bảy, tám tuổi làm được.
“Bất tác, bất thực”, không làm việc, không có ăn, tuy không thành
văn, thành lệ nhưng ai nấy đều quan niệm đứng đắn như thế. Dân nước
ta vốn từ lâu quá nghèo!
Làng có đất văn học ở cạnh làng tôi là làng Hành Thiện. Cử nhân, Tú
Tài khá nhiều. Có lẽ họ có đời sống kinh tế khá giả hơn chúng tôi
nên cho con cái đi học đến nơi đến chốn, thành đạt danh phận.
Thầy tôi nhờ được ông bà nội tôi khá giả cho đi học nhưng đến năm
1912 là khoa thi Hương đầu tiên của thầy tôi, lúc thầy tôi hai mươi
tuổi, Chính phủ Pháp bãi bỏ thi Hương. Giới khoa bảng trong huyện,
trong tỉnh, nhất là các cụ Cử Tĩnh, cụ Cử Kham, cụ Tú kép Hành thiện
… ai cũng đều tiếc cho thầy tôi, leo cây đến ngày ăn buồng còn hụt.
Họ đều nói nếu thầy tôi đi thi Hương, ắt phải đậu, mà còn đậu cao
nữa vì thầy tôi nổi tiếng hay chữ trong vùng và được các bậc khoa
bảng bậc thầy nể trọng.
Thầy tôi không “vứt bút lông đi, giắt bút chì”nhưng quay ra làm thầy
đồ ở thôn quê “Tiến vi quan, đạt vi sư”. Nhưng rồi nghề thầy đồ lợi
nhuận đạm bạc quá, con cái mỗi ngày mỗi nhiều ra, thầy tôi lại phải
đổi qua nghề Ðông y sĩ.
Có bốn nghề người bạch diện thư sinh không đậu đạt có thể làm là
:”Nho, Y, Lý, Số” thì thầy tôi đã đi qua hai. Làm thuốc có lẽ kiếm
ăn dễ hơn nghề gõ đầu trẻ vì dù sao mỗi thang thuốc trao cho bệnh
nhân cũng có lời mấy xu lúc đó chứ thầy đồ không có lương tháng,
lương năm mà học trò thì không bao giờ phải đóng học phí dù thầy có
nghèo rớt mồng tơi. Có lẽ các cụ quan niệm chữ Thánh, Hiền không
bán, chỉ tâm truyền. Mà đã tâm truyền thì đâu có bắt người theo học
phải đóng tiền. Năm thì mười họa hoặc tết nhất, mùa màng, cha mẹ
học sinh cho con đem biếu thầy đồ vài nải chuối, chục cam hay con
gà, con cá , dăm đấu gạo nếp đầu mùa v.v… là quí lắm rồi. Vợ thầy và
các con thầy vẫn cứ phải lao động quanh năm để nuôi thầy dạy học mà
không có phàn nàn nửa lời. Chỉ có thầy, đôi khi nản quá vì cảnh
nghèo cũng phải thốt ra như Cao bá Quát:
Nhà trống ba gian, một thầy một cô một chó cái
Học trò dăm đứa, nửa người nửa ngợm, nửa đười ươi
Thầy tôi cắt thuốc mát tay nên đông bệnh nhân. Tính ông thương người
nên những người nghèo hoặc cơ nhỡ, thầy tôi coi mạch và tặng thuốc,
lúc nào có tiền thì trả, không trả cũng được. Vì vậy thầy tôi
thường nói:”Y nang vô để” nghĩa là túi thầy thuốc không có đáy, ý
nói lương y cốt giúp đời, giúp người, không đặt tiền bạc lên trên
sinh mạng của bệnh nhân. Bệnh nhân nghèo cũng ráng chữa với hết sức
của mình vì thế mà không bao giờ giầu.
Nghề này thầy tôi làm cho đến cuối đời mà không phải đổi sang nghề
nào khác. Những lúc trà dư tửu hậu với bạn bè, thầy tôi thường nói:”
Nếu làm thuốc không được bệnh nhân tín nhiệm thì thầy tôi lại trở
lại nghề thầy đồ”, chứ ông không thích làm nghề địa lý hoặc bói
toán như bốn nghề đã được đề ra cho nhà Nho lỡ vận. Ông cũng có cái
thú ngâm thơ vịnh nguyệt và sáng tác thơ văn những lúc nhàn tản nên
nghề thầy đồ khá thích hợp.
Trở lại với cô Thư của tôi. Những kỷ niệm về cô mà tôi còn nhớ đến
ngày nay đã mờ nhạt như những con đom đóm bay lang thang trong mảnh
vườn mùa Hạ.
Ông bà nội tôi mất lúc cô mới ở tuổi dậy thì, cái tuổi bất cứ
người con gái nào, thời nào, địa vị nào cũng có nhiều mộng mơ. Cô
tôi lúc đó không ước mơ gì ngoài một mái ấm gia đình với người chồng
có chút học thức, hiểu biết, hiền lành, chất phác biết thương yêu vợ
con . Lúc bà tôi hấp hối, bà gọi thầy mẹ tôi đến bên giường , trối
trăn, dặn dò mọi việc. Một trong những viêc quan trọng với bà là gửi
gấm cô Thư cho thầy mẹ tôi. Ngoài việc dựng vợ gả chồng, bà còn nhắc
rằng cô Thư yếu đuối lắm, không có thể lực như cô Tân - lúc này đã
lấy chồng, có con – nên thầy tôi phải thay bà săn sóc cho cô thì bà
mới yên tâm ra đi. Thầy mẹ tôi khóc xin tuân theo những lời bà dặn.
Vì mồ côi cha mẹ nhưng còn anh trai và chị dâu hết lòng thương quí
nên cô tôi cũng đỡ tủi thân và vất vả. Dạo đó, nghe mẹ tôi sau này
kể lại vậy, vì ông bà tôi buôn bè mau khấm khá, nên trong làng có
những kẻ cùng làm nghề nhưng kém may mắn, đố kỵ, ghen ghét. Bè gỗ,
tre , nứa, song, mây của ông tôi xuôi từ Việt trì, Phú thọ, Thái
nguyên, Tuyên quang về không chuyến nào bị bão, bị nước cuốn trôi
như bè của vài nhà khác nên lúc bán cho dân làm nhà, ông tôi lấy giá
vừa phải. Còn hai nhà kia, vì mất bè, có khi chết cả người làm công
trên bè, còn được mảnh nào về đến nhà , họ đòi ông tôi phải bán theo
họ, nghĩa là với giá rất cao, nhưng ông tôi không chịu, thế là có
hiềm khích. Vì gỗ, tre, nứa rất ít ngườI buôn, phải có vốn nhiều đã
vậy lại còn phải gan dạ, can đảm lúc xuôi bè về. Ăn cướp đón đường
bắt nộp tiền mãi lộ cũng có mà về mùa nước lũ, những con sông từ
Việt trì, Phú thọ xuôi nguồn chảy như thác, người trên bè phải thức
có khi cả mấy đêm liền canh bè xuôi ở giữa sông tránh những cù lao
hay chỗ nước xoáy. Bè đóng lôi thôi không đủ sức bền chắc , nước lũ
quá mạnh có thể phá bung môt đoạn thế là mảng bè từ đó đến đuôi bè
đi đong, mất hết vốn, có khi chết cả người.
Các thứ gỗ như lim, vàng tâm, táu, sến, gụ là những thứ gỗ quí, đắt
tiền. Gỗ thường như soan, tạp. Gỗ lim đen thui và cứng như sắt, đinh
đóng chỉ oằn đinh, không mối, không mọt dùng được cả trăm năm. Nhà
thờ, nhà chùa, đền đài hoặc các tư gia khá giả dung gỗ lim làm nhà.
Còn vàng tâm thì nhẹ, thơm, cũng không mối mọt được dùng làm các đồ
nhẹ và nhất là làm săng (hòm) gọi là cỗ hậu sự. Ngôi nhà năm gian,
hai chái, xung quanh xây tường làm bằng gỗ lim sau này thầy mẹ tôi
và chúng tôi thừa hưởng chính là do ông bà tôi xây nên. Ðến giờ này
, sau cả trên trăm năm, nó vẫn còn đứng vững trên những hòn đá tảng
lớn gần bằng những cái cối đá giã bèo. Ðủ biết gỗ lim bền như thế
nào.
Khi còn nhỏ xíu, tôi thấy những cây gỗ này, nhỏ cũng khoảng gần hai
người ôm, lớn đường kính cả thước tây, thước rưỡi, dài vài ba chục
mét , mình trơn lu, hai đầu có đẽo thành cái tai để xỏ giây song
(một loại giây bưộc ở rừng, to và chắc hon mây rất nhiều) cột lai
với nhau. Thường năm, bảy cây nằm song song thành một hàng ngang và
sau đó lại một hàng ngang khác.Tre, nứa không cần tai nhưng đóng
thành cũi, thành bè cao nghệu, ràng cột lại thật chắc, thật vững để
chống chõi với nước lũ thượng nguồn chảy như thác, phá tan bè ra như
chơi.
Trên bè nứa, người ta làm nguyên một cái lều chắc chắn để nấu
nướng, ăn uống và ngủ nghỉ. Bè dài phải hai, ba cái lều mới đủ chỗ
ngủ cho chân sào. Bánh lái tương tự như bánh lái thuyền nhưng lớn
hơn nhiều và ở sát phía sau. Bè gỗ và tre, nứa của ông tôi , những
năm về sau, dài đến cả kí-lô-mét hoặc hơn nên cần cả chục người làm
công mới đủ. Họ chỉ vất vả lúc xuôi bè, nhất là khi có gió bão hoặc
nước chảy quá xiết. Còn về đến bến, khi bè đã cắm ngay dọc con sông
trước nhà ông tôi thì họ chia phiên làm và nghỉ, về nhà với vợ con,
cũng ở ngay trong làng. Ði làm bè như vây lương khá cao. Một lần đi
phải mấy tháng mới về vì còn ở trên rừng chờ gỗ, tre, nứa cho đủ
chuyến, sau đó mới xuôi.
Bà tôi mất được hơn một năm thì có người mai mối đến nói với thầy
tôi xin cô Thư cho anh con trai ông bà lý Phức.
Chú Phiến là một thanh niên nhanh nhẩu, hoạt động . Chú học ít vì
như đã nói, những gia đình trong làng hi sinh cho con cái đi học,
đếm trên đầu ngón tay. “Cái khó nó bó cái khôn “ là thế. Ðược học
như thầy tôi mà rồi Pháp sang đô hộ, bỏ thi Hán văn, áp đặt chữ Pháp
thì cũng đành chịu thua thời cuộc. Nhưng dù không được ra làm quan
với triều đình để “ra tài lương đống, thoả chí bình sinh, giúp dân
giúp nước”thì ở nơi thôn ổ cũng được trọng vọng vì có chữ nghĩa giúp
dân làng những khó khăn về công văn giấy tờ từ trên gửi xuống hoặc
tết nhất, đôi câu đối treo cạnh bàn thờ, bức hoành phi đem đi mừng
thọ v.v…
Trước kia, cô Thư đã vài lần gặp chú Phiến trong vài đám cưới của
những người bạn gái. Trai chưa vợ, gái chưa chồng thường bị gán ghép
trêu chọc nhất là vào những buổi hội Xuân hay làng có rước xách, tế
thần, tế cầu an …Vì số trai làng đều sàn sàn như vậy, những cô gái
trong các gia đình bậc trung và nghèo thì dễ mà cô tôi, vốn từ gia
đình khá giả nhất nhì trong làng, lại có nhan sắc nổi bật hơn nhiều
người, trai từ thành thị rất hiếm khi về thăm làng, nên cô cũng khó
kiếm được một hôn phu tương đối ưng ý..
Sau khi thầy mẹ tôi hỏi ý kiến cô về việc bà mai đến nói, trước sau
hai lần, cách nhau cả tháng để cô suy nghĩ nhưng cô không nói gì.
Người con gái thời đó rất e thẹn, mắc cở khi hỏi đến việc chồng vợ,
hôn nhân. Thường các cô không nói gì, ấy là đã bằng lòng. Không một
người con gái nào dám trình bày thẳng thắn những gì mình suy nghĩ
với cha mẹ, anh em.
Rồi nhà trai xin đến chạm ngõ, cũng còn gọi là bỏ cơi trầu. Nó có ý
nghĩa cô gái này đã có nơi có chốn, xin đừng ai “lộn xộn” nữa. Chú
rể tương lai từ đó cũng được phép viếng thăm, giúp góp mỗi khi nhà
gái có việc hiếu hỉ. Chú cũng có bổn phân tết lễ, biếu xén mỗi dịp
lễ tết trong năm.
Dù cho đặt cơi trầu (để dành chỗ), thầy tôi nói nhà trai sau khi
đoạn tang bà tôi mới cho cưới. Ðại tang ông tôi đã quá ba năm lâu
rồi. Dù điều kiện gì, khi họ đã ưng thì họ cũng gật đầu hết.
Thường những cô gái khi đã có vị hôn phu như cô Thư, mỗi khi bị bạn
bè hoặc người thân, người làng trêu chọc bằng cách nhắc đến tên vị
hôn phu của các cô thì các cô e thẹn đỏ mặt nhưng không giấu nổi vẻ
sung sướng. Tôi để ý thấy cô tôi, hễ có ai sắp sửa nhắc đến chú
Phiến là cô nói lảng sang chuyện khác hoặc rảo bước đi ra nơi khác.
Thỉnh thoảng ra bờ ao, tính ngồi thả hai chân xuống khua nước cho
mát, hoặc trèo lên cây sung cổ thụ nằm ngả trên mặt ao mà cái thân
khổng lồ gần hai người ôm của nó, tôi có thể đi đứng thẳng bên trên
như đi trên chiếc cầu ván, từ gốc ra tới cái chạc ba. tôi vẫn nằm
lọt thỏm vào đó nhìn trời, ngắm đất, hoặc tính leo lên cây khế ngọt
kiếm xem có quả nào còn sót, tôi lại thấy cô ngồi ở mấy bậc đá cầu
ao, mắt nhìn ra bè rau muống, rau rút tư lự xa xôi. Tôi không thích
trèo sung, trèo khế nữa mà đến ngồi cạnh cô:
“Cô Thư ơi ! Cô nhớ ông bà hả cô Thư ?
“Ừ, thế Vũ có nhớ ông bà không ?
“Cháu đâu có biết mặt ông. Bà mất cháu còn rất bé.. Nhưng cháu
cũng nhớ ông bà.”
“Sao Vũ không hái khế đi ?”
“Cháu thích ngồi đây với cô. Cô Thư ơi ! Thôi đừng buồn nữa cô ạ.”
Mãi nhiều năm sau, tôi mới biết ngoài tình thương nhớ dành cho cha
mẹ, cô Thư còn có tâm sự mà cô giấu kín, không muốn chia sẻ với ai.
Một bữa, cô hỏi mẹ tôi rồi bảo tôi thay quần áo để cô dẫn đi
chơi. Dạo đó là mùa hè. Luá sắp được gặt, chin vàng đầy đồng. Mùi
lúa ngái ngái thơm theo gió thoảng vào khứu giác, cái mùi đồng quê
thanh tao mà hấp dẫn khó tả. Gió nồm nam thổi từng cơn mát rượi làm
hai cô cháu tươi vui phơi phới. Tôi mặc một bộ quần áo trắng bằng
vải chúc bâu, đội cái mũ trắng , chân dận đôi xăng đan da bò. Cô Thư
mặc cái áo tứ thân vải nâu non mỏng, trên nhạt, dưới đậm, thắt lưng
hoa lý, đội cái nón bài thơ trắng mới. Người cô thon thả, thanh
lịch, tay chân nhỏ nhắn trắng trẻo, mềm mại chứ không thô kệch như
phần đông các cô gái quê khác. Cô mặc quần chứ không mặc váy và nếu
ai không biết thì cứ tưởng cô là gái thành thị, từ Nam Ðịnh hay Hà
nội về chơi. Bên trong áo tứ thân là chiếc áo cánh phin trắng, để hở
mấy hàng cúc phía trên cho thấy cái yếm mầu mỡ gà có hai giải buộc
ra phía sau lưng. Dận một đôi dép cong lịch sự, cô thong thả dắt tôi
đi về phía chùa Trung.
Trưa hè vắng người, hai cô cháu cứ vừa đi vừa nghe tiếng sáo diều vi
vu từ trên không trung rót xuống và tiếng ríu rít những con chim
trong bụi rậm dọc đường đi.
“Ði đâu đây cô?” Tôi ngước nhìn cô, thắc mắc.
“Vũ cứ đi với cô, khắc biết.” Cô nhoẻn cười với tôi, vẻ bí mật.
“Cô Thư ơi !”
“Sao, Vũ ?”
“ Cô xinh đẹp lắm, cô Thư ạ !”
“Thật không ?” Hai má cô tôi có lẽ ửng hồng vì lời khen của thằng
cháu trai.
“Cháu có nói dối cô bao giờ đâu !”
“Xinh bằng ai ?”
“Làng ta chẳng có ai xinh bằng cô đâu. Cô xinh như cái cô gì năm
ngoái từ Hànội về thăm thầy mẹ cháu ấy.”
Cô Thư bẹo má tôi , chữa thẹn:
“Cháu của cô lém lỉnh lắm !”
Chúng tôi đã đến cổng tam quan chùa Trung. Dọc con đường nhỏ dẫn vào
chùa là một hồ sen dài, hình chữ nhật, sen đã thấp thoáng nở, cụm
hoa đỏ, cụm hoa trắng, lá xanh mướt và to như cái nón, thật đẹp. Một
mùi hương thoang thoảng theo gió bay lên làm mỗi lần ngắm sen, tôi
lại nhớ đến bài Ca dao mẹ dạy tôi lúc tôi mới vỡ lòng:
Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh, bông trắng lại chen nhụy vàng
Nhụy vàng, bông trắng, lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn!
Mẹ bảo tôi sen tượng trưng cho người quân tử. Lúc đó, tôi chẩng hiểu
người quân tử là người gì dù mẹ có giải thích nhưng tôi cứ gia công
học thuộc, mẹ hỏi đâu đọc đấy cho mẹ vui lòng.
Ði qua một cái cổng xây nữa, cô Thư dẫn tôi vào phòng khách . Một
ni cô mặc bộ cánh nâu sồng ra tiếp. Cô nói muốn gặp bà Diệu Tâm. Ni
cô mời cô cháu tôi ngồi đợi tại bộ trường kỷ kê giữa nhà, đem nước
ra mời và đi ra phía sau. Khoảng mười phút sau, một bà cụ già nhưng
có vẻ còn khoẻ mạnh, nhanh nhẹn từ trong đi ra, tôi đoán là bà Diêu
Tâm. Chúng tôi đứng lên chào. Bà bảo chúng tôi an toạ và sau đó gọi
ni cô ra, bảo ni cô dẫn tôi ra vườn hái cho tôi mấy trái ổi chín.
Tôi không được biết cô tôi đã chuyện trò những gì với bà cụ già.
Mãi sau này, khi đã lớn khôn, tôi mới biết bà Diệu Tâm là em ruột
sư cụ chùa Trung. Sau khi người chồng qua đời vì bạo bệnh, bà thường
về chùa Trung thăm anh và ở lại chơi , có khi vài ba tháng mới trở
lại Hà nội, nơi bà có cơ sở buôn bán và nhà cửa. Bà chỉ có một người
con trai duy nhất tên Tuấn, học hành giỏi giang, tính nết đằm thắm,
có ý chí muốn làm nên sự nghiệp. Cậu Tuấn hơn cô Thư bốn, năm tuổi
gì đó và một lần về thăm bác tức sư cụ chùa Trung và mẹ, bà Diệu
Tâm, tình cờ hôm ấy cô Thư đến chùa mua hoa sen về cho thầy tôi ướp
trà nên gặp cậu Tuấn. Sau đó cũng còn gặp thêm vài lần và vì bà Diệu
Tâm biết rất rõ gia đình ông bà và thầy mẹ tôi nên có ý xin cô Thư
cho con trai bà.
Ðôi người trẻ đã biết nhau và quyến luyến. nhau lắm. Có lẽ tình
yêu nẩy nở ngay từ ngày đầu gặp gỡ khi cậu Tuấn tình nguyện bơi cái
mủng (thuyền nhỏ xíu) cho cô Thư đi hái sen. Bà Diệu Tâm muốn sớm có
cháu bế, khuyên cậu Tuấn lập gia đình. Nhưng cậu Tuấn là người
thanh niên chí khí. Tuấn muốn làm nên sự nghiệp trước đã. Hình như
cậu Tuấn có chân trong một hội kín chống Pháp. Sau này khi gia đình
tôi biết thầy tôi cũng có chân trong hội kín và đã từng phải trốn
Mật Thám Pháp sang Tàu, ở các vùng Quảng Ðông, Quảng Tây, Vân Nam,
Phúc Kiến v.v…thì thầy tôi nói có gặp cậu Tuấn vài lần ở bên Tàu.
Cô Thư gọi tôi về đang lúc tôi cùng với ni cô tính hái thêm vài, ba
trái ổi chín trắng ra ở cành cao phía trên, que chòi không tới.
Trên đường về, tôi vui vì có hai túi đầy ổi, chín vàng, thơm phức.
Cho đến lúc đã lớn, tôi vẫn thích cái mùi ổi mà tôi cho không mùi
của trái cây nào lại hấp dẫn và nồng nàn hơn. Mùi thị cũng thơm
nhưng vẫn không bằng mùi ổi.
Còn cô Thư thì buồn, nét mặt tư lự thấy rõ. Tôi kính trọng cô nên
không dám hỏi nhưng trong lòng đầy thắc mắc. Tôi cũng biết qua về
cậu Tuấn. Lần nào về chùa, cậu cũng đến thăm thầy mẹ tôi và có khi
tặng quà bánh mang từ Hà nội về, Cậu chuyện trò với thầy tôi thật
tương đắc vì cùng chí hướng nhưng đặt cơi trầu dành chỗ thì cậu chưa
làm, hoặc cậu chưa muốn làm. Trong khi đó, cô Thư, đâu có cắm sào
đợi cậu một cách bâng quơ mãi được vì thời xưa, thường con gái lấy
chồng từ 13 tuổi đến 20 tuổi. Trên 20 là coi như ế, gái già rồi.
Quả cau nho nhỏ
Cái vỏ vân vân
Nay anh học gần
Mai anh học xa
Anh lấy em từ thuở mười ba
Ðến năm mười tám thiếp đà năm con
Ra đường thiếp hãy còn son
Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng.
(Ca dao)
Giả sử muốn cho nên duyên nên phận, bà Diệu Tâm cứ đặt cho cậu Tuấn
cơi trầu, rồi bao giờ cưới thì cưới. Thầy mẹ tôi chẳng giục giã mà
cô Thư , coi như đã có nơi có chốn, đợi năm, mười năm một người
chồng vừa ý, nào cô có cho là lâu. Ðàng này, vì chí hướng, vì không
muốn để luỵ cho một người con gái yêu mình chân thành mà mình cũng
yêu người ta, cậu Tuấn đã bàn với bà Diệu Tâm hãy tạm gác chuyện vợ
con ra một bên để cậu được rảnh tay hoạt động Hội Kín đã. Bà Diệu
Tâm chiều con, vả nghe cậu Tuấn nói cũng có lý. Bà mừng thầm có cậu
con trai ý chí hơn người mặc dầu bà vẫn sợ Mật thám Pháp bắt nên
khuyên cậu phải hết sức tỉnh táo đề phòng.
Tuy chưa có một mối giây liên hệ nào giữa bà Diệu Tâm và cô Thư
nhưng bà thương cô như cô đã là con dâu của bà hoặc hơn thế, như
con gái. Ngày rằm, mồng một, cô thường lên chùa cúng Phật và tiện
thể thăm sư cụ và bà Diệu Tâm. Cô thường rủ tôi đi và hai cô cháu
hầu như lần nào cũng được nhà chùa đãi bữa cơm chay. Tôi nhớ dạo đó,
chùa Trung bao giờ cũng có mấy chum tương thật lớn để ăn cả năm ,
thứ tương ngày xưa gọi là tương Bần, (ta có thành ngữ: Nát như tương
bần) vì nó được sản xuất qui mô ở làng Bần Yên Nhân gần Hà nội. Ở
hải ngoại bây giờ ngưòi ta gọi là tương Cự Ðà. Rau muống luộc chấm
với tương, đậu phụ chùa làm lấy cũng chấm tương, nước rau muống cho
thêm vài quả cà chua hái từ vườn, dằm cho nát ra. Cơm lúc hẩm, lúc
trắng, có khi lai còn ghế thêm khoai khô, bắp hay sắn nùng nai
(khoai mì trong Nam), phụ lục bằng mấy quả cà, sung muối chua hay
dưa nén. Thế đã là sang và cái thằng bé cháu cô ăn cơm chùa sao nó
cứ ngọt lừ đi. Có lẽ vì là cơm chùa ! Lúc về, tôi nói với cô, cô bảo
ăn cơm nhà mãi thành quen, nay ngồi nơi lạ, cùng mâm với người lạ,
mùi vị cơm và thức ăn cũng lạ nốt, nên ăn ngon miệng là lẽ đương
nhiên.
Cô Thư không được học nhiều như thầy tôi vì là con gái nhưng cô
cũng học hết quyển Tam tự kinh và mấy chương trong sách Trung Dung.
Cô thấm nhuần đạo thánh hiền, tam tòng tứ đức, tam cương ngũ thường.
Cô rất nhớ mặt chữ và nghĩa từng chữ. Chữ cô viết rất đẹp, khi tôi
được thầy tôi dạy chữ Nho, nhiều lần thầy tôi bận phải nhờ cô viết
nháp cho tôi đồ lại giống như bên Quốc ngữ, ông thầy viết bút chì
cho trò tô mực lên.
Thầy mẹ tôi khất đi khất lại mãi ông bà lý Phức khi họ cứ muốn làm
đám cưới sớm cho chú Phiến và cô Thư. Thầy mẹ tôi cũng được biết ít
nhiều về mối tình của cậu Tuấn và cô Thư nhưng ý cậu Tuấn như vậy,
ai có thể làm khác được? Khất đi khất lại bố mẹ chú Phiến là thầy mẹ
tôi có ý đợi xem cậu Tuấn có thay đổi “chương trình” không vì thầy
mẹ tôi biết, cô Thư không vừa ý chú Phiến, nhất là đã gặp gỡ và yêu
thương cậu Tuấn. Cậu Tuấn đã tâm sự với cô Thư những buổi hai người
đi hái sen. Cậu nói rằng cậu yêu thương cô chân thành và thế nào
cũng cưới cô làm vợ. Nhưng cậu sắp phải đi xa, chưa biết bao giờ về.
Cũng có thể chẳng bao giờ cậu về nữa vì bị bắt hoặc phải trốn
tránh. Cậu muốn hi sinh hết cuộc đời mình cho lý tuởng phục vụ Dân
tộc, Ðất nước. Cô Thư nói cô có thể chờ câu bao lâu cũng đưọc, dù
cho sông cạn, đá mòn. Miễn là cậu nói với bà Diệu Tâm đến thưa
chuyện với anh chị cô (tức thầy mẹ tôi) để cô yên lòng chờ dợi. Cậu
Tuấn lúc đầu đã tính làm như thế, nhưng sau một thời gian suy nghĩ,
cậu đổi ý. Cậu nói cậu thương cô Thư lắm, cậu không thể làm như vậy
đuợc. Cuộc đời cậu, cậu có thể dâng cho Tổ quốc, đâu cậu có thể lợi
dụng tình yêu của cô để làm lỡ làng hết cả cuộc đời của người con
gái, phí cả tuổi xuân. Có thể cậu cùng cô trùng phùng một ngày nào
đó mà cũng có thể chẳng bao giờ cậu trở về, cô sẽ sống trong cảnh
chờ đợi vô vọng của người chinh phụ. Nghĩ đến đó, cậu không thể làm
đuợc. Cô tôi đã khóc thật nhiều những lần gặp cậu Tuấn thời gian cậu
sắp sang Tàu. Nhưng nước mắt chẳng giúp gì đuợc cô mà nó chỉ làm
não lòng thêm đôi người bạn trẻ tha thiết yêu nhau sắp xa nhau!
o0o
Mãi hơn ba năm sau ngày đặt cơi trầu chạm ngõ, cô Thư mới về nhà
chồng. Thường người ta không để lâu như vậy. Có khi ba tháng, sáu
tháng, có khi một năm là người ta cho cưới. Còn cưới chạy tang thì
khỏi nói. Cơi trầu chạm ngõ vài bữa là cưới liền cũng được. Rất ít
người biết chuyện thầm kín của cô Thư với cậu Tuấn. Chuyện thầm kín
này chỉ là một tình yêu trong sạch trong tâm hồn mà chưa hề có một
đụng chạm nào về thể xác.
Thời đó, nếu người con trai mạnh dạn lắm, bạo gan lắm thì cũng chỉ
đến nắm lấy bàn tay người yêu để nghe đôi trái tim đập rộn ràng
trong lồng ngực. Nào có ai biết hôn hít như thế nào cho đến khi phim
ảnh Pháp-Mỹ ùa vào các thành phố lớn của ta mở màn cho những xúc cảm
mới lạ đầy tây phương tính giữa nam và nữ. Thời cô Thư trở lên,
thương lắm thì chỉ đến hôn vào má là cùng. Chưa ai biết được nụ hôn
môi nó ngây ngất ra làm sao.
Sự việc để lâu la không cho cưới sớm cũng là cái cớ dể bà lý Phức
hành hạ cô tôi.
Nhà bà cấy rẽ bốn mẫu ruộng, nuôi một đàn lợn thịt, hai con lợn nái,
một đàn gà, vịt vài chục con, nhà còn hai cô con gái chưa lấy chồng
nhưng chỉ bắt làm phất phơ, bao nhiêu công việc nặng nhọc trong nhà
đổ lên đầu cô tôi hết. Cô tôi xinh đẹp, dịu dàng, được nhiều người
trong làng thương mến, lại có chút học vấn hơn hẳn hai cô con gái bà
lý Phức cũng là nguyên nhân để ba mẹ con bà ghen ghét, đố kỵ.
Buổi sáng lúc 4 giờ, chuông công phu của chùa Trung và chuông nhất
từ nhà thờ gần đó trổi lên giục giã tín đồ đi lễ là cô tôi phải dậy
thổi cơm cho canh điền để khoảng một tiếng nữa họ đến ăn rồi ra
đồng. Vừa lo cơm cho người vừa nấu cám cho lợn, gà, chó. Bèo đã thái
sẵn hoặc giã trong cối đá tối hôm qua đem ngào vào cám nóng cho
nhuyễn rồi đổ vào máng cho lợn ăn. Bèo thái to hay giã dối, ngào mỏi
tay cám không nhuyễn lợn không chịu ăn là ốm đòn. Cám gà không trộn
bèo nhưng phải rót vào máng cho chúng và chờ đến sáng rõ thì thả
chúng ra vườn cho chúng đi nhặt sâu bọ. Chó chỉ thích ăn cơm , không
thích cám, nhưng gạo đâu cho đủ nuôi bốn con chó to như con bê, nên
cứ cho cám, không ăn đói quá phải ăn. Ăn riết quen. Chó ăn cám nhiều
cũng mập và dân ghiền “mộc tồn, cờ tây” khoái tất, lúc cần bán
cũng có tiền. Lợn thôn quê ăn cám thịt thơm ngon hơn lợn ăn nước gạo
dư ở thành phố. Vì vậy thịt lơn ở Bắc và Trung phần bao giờ cũng
ngon hơn thịt lợn trong Nam.
Khi canh điền và những người ra ruộng đi rồi thì cô tôi lại lo một
đợt ăn khác cho những người nhà gồm có ông bà lý Phức, chú Phiến và
hai cô em chồng. Ông lý Phức hiền như đất, cả ngày chẳng nói chẳng
rằng, ai muốn làm gì thì làm. Ông bị bà vợ bắt nạt. Còn hai cô em
chồng vào cái loại thần đanh đỏ mỏ, tuổi cũng đã lớn nhưng không ai
dám lấy vì quá dữ. Lười chảy thây chảy xác ra không chịu phụ bếp vì
có bà Phức a tòng nhưng bữa nào cũng chê ỏng chê eo rằng sao chị Cả
-chú Phiến là con cả ông bà lý Phức - thổi cơm nhão thế này, canh
nhạt quá hoặc mặn đắng ra, hoặc cá kho nát quá, giưa muốn khú v.v…Cứ
cái kiểu như thế thì cô tôi có là hậu thân của Phật bà Quan Âm cũng
không sao tươi nét mặt được.
Vậy là trong bữa cơm, bà lý Phức giở luân lý ra dậy dỗ. Nào:”Dù no
dù đói cho tươi. Dù chồng có giận cũng cười:”Thưa anh!” Nào khi xưa
tao làm dâu bà cụ mẹ chồng còn khó đến thế nào. Mỗi đêm tao chỉ được
ngủ có vài tiếng là nhiều. Nhà này ai cũng khen là dễ nhất đấy. v.v…
Chú Phiến trong thời gian hơn ba năm vị hôn phu, tới nhà thầy mẹ
tôi là chú làm hết mọi việc, xăng xái, tháo vát, ai cũng khen.
Nhưng chú làm chỉ để biểu diễn. Từ ngày lấy được vợ , chú đâm ra
lười biếng không đụng đậy một việc gì. Việc đồng áng thì giao cho
canh điền, chú chỉ đóng bộ vào đi bù khú hết đình này đến đám kia.
Chú đâm ra rượu chè, cờ bạc, càng ngày càng lún sâu vào các thói hư
tật xấu.
Một bữa, cô Thư đang đâm bèo bằng cái chầy nặng và dài bằng thân
người . Bèo đổ vào trong cối đá lớn như cái cối giã gạo. Tội nghiệp
cô chân yếu tay mềm, từ thuở bé ông bà tôi biết cô yếu sức đâu có
cho cô làm những việc nặng nhọc như vậy. Ðâm được dăm cái, vì chầy
nặng quá, cô đứng thở dốc, mắt hoa, muốn khuỵu xuống đó. Ðã nhiều
đêm liền cô chỉ ngủ được vài tiếng đồng hồ là bà lý Phức đã gọi cô
dậy để thổi cơm mặc dù có khi chưa chuông nhất (4 giờ sáng). Cô đứng
ôm cái chầy, định thần cho khỏi ngã thì bỗng nghe tiếng quát của
chú Phiến:
“Làm thì ra làm, không thì vào ngồi nghỉ. Làm hời hợt thế bao giờ mẻ
bèo mới xong?
Cô Thư giật mình, trố mắt nhìn chồng toan nói:”Tôi mệt quá, mà cái
chầy nặng quá. Nhà kiếm cho tôi cái chầy nhỏ hơn đi !” Nhưng cô chưa
kịp nói gì thì bà lý Phức đứng trong hàng hiên đã la lên:
“Ðấy cậu thấy đấy nhé, kẻo lại bảo mẹ ghét bỏ nó. Làm lụng lười
biếng như vậy, sáng bảnh mắt gọi không buồn dậy, trách gì không ngày
nào không trễ cơm canh cho thợ cấy, thợ gặt. Quen ăn trắng mặc trơn
mãi rồi mà !”
Phiến càu nhàu:
“Mẹ để cho con dậy nó. Sao ngày nào mẹ cũng lèm bèm hoài nghe nhức
đầu lắm.”
“Ừ, vợ cậu thì cậu dậy đi. Từ nay tôi không nói nữa !”
Phiến nhào lại giằng lấy cái chầy từ tay cô Thư bậm môi bậm lợi giã
năm, bảy cái rồi trao cái chầy cho cô:
“Nhẹ hều chứ nặng nề gì. Làm thì phải mím môi mím lợi mà làm chứ vừa
làm vừa chơi thì bao giờ xong . Chỉ tổ mệt ra thôi. Nhà đi vào lấy
cho tôi mượn một đồng.”
Cô Thư nhìn chồng:
“ Nhà làm gì mà cần tới những một đồng bạc ?
“Làm gì kệ tôi. Cứ đưa đây. Hôm nào có tôi trả.”
Một đồng bạc Ðông dương lúc đó lớn lắm, có thể đong được hai chục
thùng thóc hoặc hơn. Một con lợn nặng bảy, tám chục kí-lô giá khoảng
hai đồng. Cô Thư vào trong buồng, cô đã giấu kín tiền vào một chỗ
chỉ có cô biết. Mấy đồng bạc này thầy mẹ tôi cho cô hôm cô về nhà
chồng để làm vốn riêng, ngộ sau này có cần buôn bán gì chăng. Cô vẫn
định sẽ sắm một gánh hàng xén (đồ lặt vặt như kim chỉ, khăn mặt,
xà-phòng, guốc, dép v.v…) đi các chợ bán để mưu sinh trước khi có
con.
Cô cầm tờ giấy bạc còn thơm mùi giấy ra cho chồng, toan bảo chồng
giã dùm cối bèo để cô sửa soạn đi thổi cơm trưa cho canh điền thì
chú Phiến, cô chưa kịp trao, chú đã giật lấy tờ giấy bạc và chạy bay
ra cửa. Cô Thư cắn răng giã nốt mẻ bèo, múc ra vại và lủi thủi vào
buồng lấy gạo thổi cơm. Hai đứa em chồng đi biến, không đứa nào ở
nhà để phụ giúp một tay. Cô Thư vừa thổi cơm vừa khóc.
Chú Phiến đi đến tối mịt mới về, quát vợ sắp cơm cho ăn, lại còn mè
nheo còn nửa cút rượu không đủ và thức ăn sao đạm bạc vậy ? Cô Thư
chẳng biết nói sao, không lẽ cô nói bà lý Phức đưa quá ít tiền chợ
mà thợ làm ruộng thì mướn nhiều, làm sao có cơm gà cá gỏi được. Vả
lại đã phải dọn ra cho thợ và người nhà ăn, lấy đâu cho nhiều để
dành phần người đi đánh bạc không biết lúc nào về và nhiều khi ăn
tại đám bạc do nhà chứa bạc đãi. Ăn xong, lúc cô Thư đang sắp bỏ
thóc vào cối để xay thì chú Phiến từ trên nhà đi xuống:
“Mình cho tôi mượn thêm một đồng. Mai mốt tôi trả
luôn hai đồng.”
Cô Thư kinh ngạc:
“Mới một đồng sáng nay, mình làm gì đã hết ?”
“Làm gì kệ tôi. Cứ đưa thêm một đồng đây !”
“Có vài ba đồng anh chị cho mượn để làm vốn buôn
bán. Mình tiêu như vậy làm sao tôi có tiền ?”
“Có đưa không thì bảo. Ðây không có thì giờ lằng
nhằng.”
Mắt Phiến trợn trừng như muốn ăn tươi nuốt sống vợ.
Cô Thư sợ quá phải bỏ cối thóc đó lên buồng moi tiền.
Phiến đi suốt đêm, đến sáng hôm sau mới về vào buồng
ngủ cho đến trưa. Dậy ăn cơm xong lại đòi tiền đi gỡ vì đã thua hết.
Lần này cô Thư không chịu đưa nữa:
“Mình tạm nghỉ đi. Mình đang đen, càng gỡ càng thua.
Mà tôi cũng hết tiền rồi.”
“Có đưa không thì bảo ?”
Cô Thư vẫn không ngưng tay xay thóc. Phiến thuận tay
tát cô Thư một cái như trời giáng làm cô ngã bổ ngửa ra nền nhà. Hắn
đấm vào mặt, vào người cô năm, bảy đấm và đá cô nằm sóng soài ra ,
đầu tóc xổ tung rồi hắn bỏ chạy ra cổng. Bà lý Phức và hai cô con
gái đứng ở nhà trên dòm xuống có vẻ thích chí , nhưng không hề chạy
xuống can Phiến không nên đánh vợ.
Cô Thư nằm bất tỉnh nhân sự vì bị đánh đau quá, tàn
nhẫn quá. Cô mê đi, miệng lẩm bẩm:”Thầy mẹ ơi, anh chị ơi !” Mãi
đến vài chục phút sau, bà lý Phức sợ cô chết nên xuống lấy nước hắt
vào mặt cô cho cô tỉnh dậy. Tỉnh dậy rồi cô chỉ ngồi khóc. Chiều hôm
đó, bụng cô đau quặn lên như đau đẻ. Có ai ngờ cô đã có thai và cái
thai bị động, nó muốn ra.
Bà lý Phức buộc lòng phải thông báo cho thầy mẹ tôi.
Thầy tôi dạo đó đã sang Tàu theo phong trào Ðông Du của Ðông Kinh
Nghĩa thục do cụ Phan bội Châu và cụ Phan chu Trinh đề xướng. Thầy
tôi đã đi được một tháng. Mẹ tôi trước hết cho người đến cáng cô Thư
về nhà , sau đó đến nói với ông Ðông y sĩ Từ là bạn đồng môn với
thầy tôi để xin chữa cho cô Thư.
Mặc dù đã được săn sóc thuốc thang tận tình, cái
thai trong bụng cô Thư cũng không giữ được. Máu ri rỉ ra đỏ cả
giường chiếu . Mẹ tôi đi kiếm người đàn bà chuyên việc nạo thai khi
có người bị sẩy thai. Cô Thư đau đớn đến ngất đi. Khi cô tỉnh, tôi
rén rén vào ngồi cạnh giường, cầm lấy bàn tay cô. Bàn tay thô nhám
sần sùi đen đúa và đầy vết rạn, vết cắt trái hẳn với đôi bàn tay
nuột nà, trắng trẻo, xinh xẻo trưóc kia. Tôi nhìn cô, mặt cô gầy xọm
đi, quầng mắt đen , cái nhìn lạc thần, tóc tai bù rối chưa kể những
vết thâm tím trên trán, trên má, trên cổ. Tôi nghẹn ngào, cố giữ
không cho nước mắt trào ra:
“Sao thế này, hả cô ?”
Tôi biết cô cũng cố ngăn dòng nước mắt. Im lặng một
lúc.
“Vũ thương cô không?”
Tôi gật đầu.
“Vậy Vũ phải học cho giỏi và mạnh dạn lên nhé. Ðừng
bao giờ Vũ khóc nhé. Ðã lâu nay Vũ có dịp lại chùa Trung thăm sư cụ
không ?”
(Còn tiếp)
Xuân Vũ TRẦN ÐÌNH NGỌC
|